kinhthanh

TRANG CHỦ li-category Mùa Thường Niên li-category CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN – A

                                                                                                              Lm Inhaxiô Hồ Thông

Bài đọc I trích từ I-sai-a đệ nhị. Vị ngôn sứ an ủi những người lưu đày ở Ba-by-lon. Ông thoáng thấy ở nơi vua Ba-tư là Ky-rô dụng cụ mà Thiên Chúa chọn để giải thoát dân Ngài khỏi cảnh đời nô lệ.

Is 45: 1, 4-6

Bài đọc II trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Bài đọc nầy xem ra không ăn nhập với chủ đề của bài đọc I và Tin Mừng, nhưng đây là bản văn Tân Ước đầu tiên làm chứng về sức sống mãnh liệt của Giáo Hội tiên khởi. Thánh nhân ca ngợi đức tin, đức cậy và đức mến của họ.

1Th 1: 1-5

Trong cuộc tranh luận của Ngài với nhóm Biệt Phái, trả lời cho một vấn đề nan giải giữa công dân trần thế và công dân Nước Trời: "Của Xê-da trả về Xê-da, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa".

Mt 22: 15-21

BÀI ĐỌC I (Is 45: 1, 4-6)

Bản văn này là một trong nhiều sứ điệp an ủi mà vị ngôn sứ biệt danh I-sai-a đệ nhị mang đến cho những người lưu đày ở Ba-by-lon.

Vị ngôn sứ nầy, trên mười năm, từ 550 đến 539 trước Công Nguyên, đã tìm cách an ủi đồng bào của mình, họ nhục chí trước cuộc lưu đày tưởng chừng như vô tận nầy. Ông hứa với họ sự giải thoát sắp gần đến. Niềm hy vọng của ông nhắm đến vua Ky-rô, nước Ba-tư.

Vào năm 553 trước Công Nguyên, vua Ky-rô đã cất đi cái ách của vua Mê-đi là Astyage. Sau khi đã thống nhất quyền lực Ba-tư và quyền lực Mê-đi, ông xuất quân chinh phục miền Tiểu Á. Vào năm 539, ông tiến quân vào Ba-by-lon, chấm dứt thời kỳ thống trị của Đế Quốc Ba-by-lon. Ngay cả trước khi những cuộc chiến thắng ngoạn mục của vua Ky-rô vang dội khắp nơi, vị ngôn sứ lưu đày đã loan báo rằng ý định Thiên Chúa là sử dụng vua Ky-rô để giải thoát dân Ngài khỏi cảnh đời tù đày Ba-by-lon.

1. Sấm ngôn của vị ngôn sứ

Sấm ngôn thật sự gây hoang mang. Phải chăng Gia-vê nhờ đến một vị vua ngoại giáo để giải thoát dân Ít-ra-en? Vị ngôn sứ xua đi những thành kiến của những người lưu đày bằng cách khẳng định đó là cách hành xử của Thiên Chúa. Ông mạnh dạn quả quyết rằng vua Ky-rô đã được Gia-vê tuyển chọn và thánh hiến để trở nên dụng cụ trung thành của Thiên Chúa.

Phần đầu sấm ngôn được trình bày như một bản văn phong vương, đồng hóa vua Ky-rô với một vị vua của dân Ít-ra-en: Gia-vê thánh hiến vị vua mà Ngài đã tuyển chọn, và "cầm lấy tay phải", nghĩa là trợ giúp và bảo vệ vua, đảm bảo rằng vua sẽ chiến thắng mọi quân thù.

Tất cả những diễn ngữ trong sấm ngôn nầy được gặp thấy không chỉ trong các bản văn kinh thánh nhưng cũng trong các bản văn của miền Cận Đông. Người ta có thể đọc những dòng chữ được khắc trên một hình trụ: "Marduk (vị thần Ba-by-lon) tìm kiếm một lãnh tụ chí công vô tư mà thần có thể cầm tay. Đó là Ky-rô mà Ngài công bố là chúa tể muôn dân. Ngài đặt dưới chân vua xứ sở Guti, thúc dục ông xuất chinh chống lại Ba-by-lon, đi bên cạnh ông như một người bạn".

Trong sấm ngôn của mình, vị ngôn sứ xác định Gia-vê hứa với vua Ky-rô một cuộc chiến thắng như thế nào khi gợi lên "mở toang cửa thành trước mặt vua, khiến các cổng không còn đóng kín". Cốt là các cổng thành danh tiếng bằng đồng của Ba-by-lon. Quả thật, chúng mở toang trước vua Ky-rô mà ông không phải tốn một làn tên mũi kiếm. Ba-by-lon bị sụp đổ mà không cần phải giao chiến.

2. Gia-vê, Chúa Tể của mọi biến cố

Chính vì dân Ngài mà Gia-vê dẫn đưa vua Ky-rô từ chiến thắng nầy đến chiến thắng khác. Ngài "gọi đích danh vua", nghĩa là trao phó cho vua một sứ mạng (đây là diễn ngữ kinh thánh được dùng để chỉ ơn gọi). Ngài ban cho vua một tước hiệu (có thể là tước hiệu "Đấng được xức dầu" hay "người mục tử của Ta", được ngôn sứ trích dẫn ở nơi khác) dù vị vua ngoại giáo nầy không biết Ngài.

Quả thật, vua Ky-rô hành xử như một người Gia-vê tuyển chọn. Vua tỏ ra mình hào hiệp: chiến thắng vua Mê-đi là Astyage, ông để cho vua nầy được sống, chiến thắng vua Ba-by-lon là Crésus, ông cũng hành xử như thế. Ông không gây bất kỳ thiệt hại nào đối với thành Ba-by-lon. Ông tôn kính tôn giáo của kẻ bại trận.

Dù thế nào, vị ngôn sứ quả quyết chính Gia-vê là Chúa Tể của mọi quyền bính chính trị, chính Ngài ban quyền lực, chính Ngài hướng dẫn mọi biến cố: "Ta là Đức Chúa, không còn Chúa nào khác".

Gia-vê không chỉ là Thiên Chúa của dân Do thái mà còn là Thiên Chúa của muôn dân muôn nước. Ngài không lệ thuộc vào một quyền lực trần thế nào, trái lại mọi quyền bính đều xuất phát từ Ngài. Dù có ‎ý thức hay không, họ đều là khí cụ trong tay Ngài để thi hành chương trình cứu độ của Ngài. Không phải Đức Giê-su sẽ nói với Phi-la-tô: "Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài" sao? (Ga 19: 11).

BÀI ĐỌC II (1Th 1: 1-5)

Chúng ta bắt đầu đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Thánh nhân viết thư nầy từ Cô-rin-tô vào năm 51. Đây là bức thư đầu tiên của vị sứ đồ và đồng thời cũng là bản văn Tân Ước xưa nhất. Được viết chưa tới hai mươi năm sau cái chết của Đức Giê-su, bức thư nầy hình thành nên một chứng liệu quý báu.

Phần đầu của bức thư cung cấp một lời chứng đáng chú ý về đức tin của Giáo Hội tiên khởi. Trước hết, đây là một trong những bức thư liên kết thường hằng nhất chữ "Thiên Chúa" với chữ "Cha": "Thiên Chúa là Cha" và "Thiên Chúa là Cha chúng ta". Đoạn, danh xưng "Chúa Giê-su Ki tô", nghĩa là Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a và là Chúa, tước hiệu bao hàm thần tính và vinh quang của Ngài. Cựu Ước dành riêng tước hiệu "Chúa" nầy cho Gia-vê. Cuối cùng, quyền năng của Chúa Thánh Thần được bày tỏ trong việc loan truyền Tin Mừng. Như vậy, Ba Ngôi Thiên Chúa là nét độc đáo của Ki tô giáo.

Mặt khác, ngay từ bản văn Tân Ước đầu tiên, xuất hiện thuật ngữ "ecclesia" ("Hội Thánh") được dùng để chỉ một cộng đoàn Ki tô hữu. Trước tiên, thuật ngữ "Hội Thánh" mang nét nghĩa phàm trần: tại dân Hy lạp, thuật ngữ nầy chỉ Hội Đồng nhân dân. Để loan báo Giáo Hội tương lai của mình, Đức Giê-su thật ra đã sử dụng thuật ngữ Híp-ri và A-ram: qahal. Thánh Mát-thêu là thánh ký duy nhất đã đặt trên môi miệng Đức Giê-su thuật ngữ nầy (Mt 16: 18; 18: 17). Thuật ngữ qahal chỉ "đại hội" của dân Do thái trong sa mạc (Đnl 4: 9-13; 9: 10; 18: 16; 23: 2; 31: 30) hoặc của cộng đồng phụng vụ (1Sb 13: 2; 28: 8; 2Sb 20: 3; 30: 1; Nkm 1: 12). Vả lại, hai thuật ngữ: Do thái và Hy lạp giống nhau bởi ngữ căn của chúng: thuật ngữ Do thái, qahal, bao gồm khái niệm kêu gọi, triệu tập, trong khi từ Hy lạp ecclesia phát xuất từ động từ kaleô, kêu gọi, mời gọi. Cả hai đều diễn tả ‎chính xác thực tại Hội Thánh: không tự mình hình thành nên, nhưng đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa, tập hợp lại hay quy tụ lại thành dân Thiên Chúa.

Nếu thánh Phao-lô gọi các giáo đoàn địa phương là Hội Thánh, thánh nhân luôn luôn hiệp nhất các giáo đoàn nầy vào Hội-Thánh Mẹ, là Hội Thánh Giê-ru-sa-lem. Toàn thể hình thành nên một Hội Thánh duy nhất, mà thánh nhân sẽ gọi là "thân thể của Đức Ki-tô".

1. Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca:

Thê-xa-lô-ni-ca là thủ phủ của miền Ma-kê-đô-ni-a. Đây là thành phố thứ hai của Châu Âu mà thánh Phao-lô mang Tin Mừng đến. Thành phố thứ nhất là Phi-líp cũng thuộc miền Ma-kê-đô-ni-a.

Thê-xa-lô-ni-ca là một thành phố biển và thương mại phồn vinh. Thê-xa-lô-ni-ca là tên mà một trong các tướng lãnh của A-lê-xan đại đế lấy tên vợ của mình đặt tên cho thành phố nầy. Có một cộng đồng kiều bào Do thái sinh sống ở đây. Họ có một hội đường. Trong sách Công vụ, thánh Lu-ca đã tường thuật những diễn biến của việc thành lập Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca nầy vừa ngắn gọn vừa gian nan (Cv 17: 1-9). Chính trong hội đường Do thái nầy mà thánh Phao-lô lên tiếng vào ba ngày sa-bát liền.

Lời rao giảng của thánh nhân được vài người Do thái và một số đông người Hy-lạp hoan hĩ tiếp đón, trái lại, gây phẫn nộ cho cộng đoàn Do thái ở đây. Họ gây náo loạn trong thành phố đến nổi thánh Phao-lô và bạn đồng hành của ngài là ông Xi-la buộc phải vội vã rời bỏ thành phố ngay đêm ấy. Thánh Phao-lô trốn chạy đến Bê-roi-a và từ đó đến A-thê-na bằng đường biển. Lo lắng vì đã để lại một cộng đoàn non trẻ, đức tin chỉ vừa mới bén rể, ấy vậy đã phải chịu nhiều phiền nhiễu rồi, thánh nhân khẩn khoản xin Ti-mô-thê trở lại Thê-xa-lô-ni-ca để ủy lạo những người Ki tô hữu non trẻ nầy. Khi gặp lại thánh Phao-lô lúc đó ở Cô-rin-tô, Ti-mô-thê đem đến cho thánh nhân những tin tức đầy khích lệ: Hội Thánh non trẻ nhưng thật kiên vững.

Vui mừng và an tâm, thánh Phao-lô viết thư thứ nhất nầy. Bức thư nầy cùng với thư gởi cho các tín hữu Phi-líp, chứa chan những lời trìu mến nhất của thánh nhân.

2. Chúng tôi, Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê

Theo thể thức thư tín vào thời đó, một hay nhiều người đồng k‎ý tên vào trong một bức thư: "Chúng tôi, Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê". Xin-va-nô cũng được gọi Xi-la trong sách Công Vụ và sau nầy trở thành thư k‎ý của thánh Phê-rô ở Rô-ma (1Pr 5: 12). Vào lúc nầy, ông thay thế ông Ba-na-bê bên cạnh thánh Phao-lô, sau khi thánh nhân chia tay với Ba-na-bê ở Cô-rin-tô. Còn Ti-mô-thê là một trong những người đồng hành trung thành nhất của thánh Phao-lô. Chúng ta gặp thấy tên ông bên cạnh tên thánh Phao-lô trong sáu bức thư.

Tiếp đó là tên người nhận thư: "xin gởi thư nầy cho Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca". Chúng ta lưu ‎ ý việc chuyển từ số ít tập thể: "Hội Thánh" đến ngôi thứ hai số nhiều: "Chúc anh em…"

3. Thiên Chúa là Cha chúng ta và Chúa Giê-su Ki tô

Thật sự hoàn toàn mới mẽ. Cộng đoàn Ki tô hữu không chỉ ở trong Thiên Chúa là Cha, nhưng cũng ở trong Đức Giê-su Ki tô được công bố là Chúa. Ngay từ những hàng đầu tiên của thư đầu tiên nầy, chúng ta gặp thấy biểu thức tiêu biểu của thánh Phao-lô: "trong Đức Giê-su Ki tô", "trong Đức Ki tô" thường trở đi trở lại trong các bức thư của thánh nhân. Đây là biểu thức mấu chốt của cuộc sống nội tâm của thánh nhân, cũng như tính năng động tông đồ của ngài.

4. Ân sủng và bình an

Lời chào mở đầu của bức thư liên kết lời chào của người Do thái: "bình an" ("shalom") với lời chào của người Hy-lạp: "ân sủng" ("charis"). Thánh nhân sẽ sử dụng lời chào nầy trong tất cả các bức thư của ngài, ngoài trừ hai bức thư gởi cho Ti-mô-thê, thánh nhân thêm vào "lòng thương xót": "ân sủng, lòng thương xót và bình an". Thật ra, sự liên kết của hai thuật ngữ nầy vốn đã hiện diện trong Do thái giáo rồi. Chúng ta găp thấy điều nầy trong sách Dân Số: "Nguyện Gia-vê chúc phúc cho anh em…Nguyện Gia-vê ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em". Lời nguyện chúc nầy tái xuất hiện trong các sách Khải Huyền Do thái như sách Hê-nốc 1: 4: "Nguyện xin Thiên Chúa ban cho anh em ân sủng và bình an", cũng như trong các lời cầu nguyện của cộng đồng Qum-rân. Nhưng thánh Phao-lô chất nặng hai thuật ngữ nầy với sự giàu có Ki tô giáo. Ngài viết cho các tín hữu Phi-líp: "Bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết" (Pl 4: 7).

5. Cảm tạ Thiên Chúa

"Chúng tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa khi nghĩ đến anh em". Sau nầy, hầu như tất cả bức thư của ngài, thánh Phao-lô bắt đầu với lời "cảm tạ" hay "chúc phúc" theo cách Do thái. Ở trong thư gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca nầy, thánh nhân đặc biệt khai triển lời cảm tạ. Ngài diển tả niềm vui của mình vì biết các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca vẫn một mực trung thành và vững mạnh bất chấp những phiền nhiễu mà những người Do thái gây ra cho họ.

6. Ba nhân đức đối thần

"Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những nghịch cảnh anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki tô."

Một lần nữa, một trong những lợi ích lớn lao về phương diện lịch sử cũng như về phương diện thần học của bản văn Tân Ước đầu tiên nầy, đó là khám phá ở đây lời phát biểu ba nhân đức căn bản mà sau nầy sẽ được gọi là ba nhân đức đối thần. Ở 5: 8 cũng như ở Col 1: 4-5, thánh nhân sẽ trích dẫn ba nhân đức nầy theo cùng một trật tự: đức tin, đức mến và đức cậy, và ở 1Cr 13: 13 theo một trật tự khác: đức tin, đức cậy và đức mến.

7. Chiều kích Ba Ngôi

Những tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca đa số đều xuất thân từ lương dân. Thánh nhân nhấn mạnh họ thuộc về dân Chúa chọn, cùng một tước hiệu như những người đồng đạo của họ xuất thân từ Do thái. Từ đây sự tuyển chọn của Thiên Chúa mở rộng cho hết mọi người. Nhưng nhất là thánh nhân thán phục những thành quả đáng ngạc nhiên ở Thê-xa-lô-ni-ca: họ không thể là hoa trái duy nhất của lời rao giảng Tin Mừng của thánh nhân, nhưng còn là tác động của Chúa Thánh Thần nữa.

Trong thư gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, thánh nhân viết: "Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan phàm nhân, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa." (1Cr 2: 1-4). Thật ra, đây là điều mà thánh nhân đã nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca rồi: "Khi chúng tôi rao giảng Tin Mừng cho anh em , thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa".

TIN MỪNG (Mt 22: 15-21)

Giai thoại nầy rất nổi tiếng được cả ba Tin Mừng nhất lãm tường thuật. Lời của Đức Giê-su: "Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa" đã được biện luận như một sự phân biệt giữa hai thế lực, tâm linh và trần thế. Biện luận nầy gợi lên nhiều áp dụng thực tiển khác nhau qua nhiều thế kỷ.

Trong bối cảnh trực tiếp, lời nầy được ghi ở lòng của những cuộc tranh luận với nhóm Biệt Phái vào những ngày cuối cùng sứ vụ của Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem trước cuộc Tử Nạn của Ngài: "Nghe các dụ ngôn Ngài kể, các thượng tế và người Biệt phái hiểu là Người nói về họ. Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ" (Mt 21: 45).

Những người Biệt phái bàn mưu tính kế với nhau tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy. Họ cấu kết với phe Hê-rô-đê, một đảng phái chính trị, được thiết lập từ đại vương Hê-rô-đê, luôn luôn sát cánh với chính quyền La-mã. Những người Biệt phái hy vọng nhóm nầy làm chứng về lời của Đức Giê-su ngỏ hầu có thể bắt Ngài và tố cáo Ngài.

1. Âm mưu thâm độc:

Rào trước đón sau bằng những lời "mật ngọt chết ruồi", họ tán dương sự chí công vô tư của Đức Giê-su: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật, và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa". Chữ "đường lối" là ngữ vựng tôn giáo. Thuật ngữ nầy có cội rể trong các Thánh vịnh, đặc biệt Tv 119, có hai con đường, một dẫn đến việc thực thi đức công chính và một dẫn đến sự hư mất.

Bất chấp ác ý được khôn khéo bọc trong những lời mật ngọt, quả thật đây là một lời khen ngợi tuyệt vời. Cuối cùng, viện cớ soi sáng lương tâm của mình, họ đặt một câu hỏi gày bẫy: "Có được phép nộp thuế cho Xê-da, hoàng đế Rô-ma hay không?"

Phải nói rằng ở Giu-đa hoàn cảnh thì đặc thù. Kể từ khi Archélaüs, con của đại vương Hê-rô-đê bị hoàng đế Au-gút-tô cất chức vào năm 6 kỷ nguyên của chúng ta, miền Giu-đa đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của chính quyền La-mã, đại diện tại chỗ là một quan Tổng Trấn. Trong khi miền Ga-li-lê và những địa hạt phương Bắc vẫn dưới quyền cai trị của các tiểu vương Do thái, Hê-rô-đê Antipas và Phi-líp, hai người con khác của đại vương Hê-rô-đê.

Ở miền Giu-đa, nhóm Nhiệt Thành khuyến cáo không được nộp thuế, vì đây là cử chỉ thuần phục chính quyền chiếm đóng. Nhóm Sa-đu-xê-ô, hợp tác với chính quyền Rô-ma, ủng hộ việc nộp thuế. Nhóm Biệt phái giữ lập trường trung lập: họ không thừa nhận sự bạo lực của bè Nhiệt Thành cũng như tinh thần cộng tác của bè Sa-đu-xê-ô. Vì thế, "nộp thuế hay không" là một vấn đề có tính thời sự. Nhưng ý định của các địch thủ của Ngài thì hoàn toàn khác: họ muốn đặt Ngài vào trong một vấn đề tiến thối lưỡng nan để trừ khử Ngài.

Chính quyền La-mã ban hành ba thứ thuế thông thường. Trước hết là "thuế điền thổ", mỗi người đều phải đóng thuế cho nhà nước một phần mười hoa màu đất đai của mình. Đoạn, "thuế lợi tức" gồm một phần trăm lợi tức của mỗi người. Sau cùng là "thuế thân" quy định mọi người nam từ mười bốn đến sáu mươi lăm tuổi và người nữ từ mười hai đến sáu mươi lăm đều phải đóng một quan tiền, tức bằng lương công nhật của một người (Mt 20: 1-2). Thuế trong câu hỏi ở đây là thuế thân.

Nếu Chúa Giê-su trả lời "phải", Ngài sẽ mất hết uy tín đối với quần chúng, vì họ đặt ở nơi Ngài niềm hy vọng giải phóng quốc gia khỏi ách đô hộ La-mã. Nếu Ngài trả lời "không", Ngài tự đặt mình đối đầu với quyền lực Rô-ma, và chắc chắn những người thuộc phe Hê-rô-đê, thân chính quyền La mã sẽ có cớ để tố cáo Ngài là phản động.

2. Câu trả lời của Đức Giê-su

Nhưng Đức Giê-su không tránh né câu hỏi hóc búa nầy. Ngài yêu cầu họ cho Ngài xem "một quan tiền nộp thuế". Điều nầy rất quan trọng. Chung quy có hai loại tiền tệ hiện hành ở Giê-ru-sa-lem. Đồng tiền chính thức của đế quốc La-mã mang hình và danh hiệu của vị hoàng đế Xê-da. Mọi hình thức nộp thuế đều phải được quy định bằng đồng tiền chính thức nầy. Ngoài ra, còn có "đồng tiền đền thờ", đặc thù của dân Do thái, được dành riêng cho các cách dùng phụng tự (đó là lý do tại sao có những người đổi tiền trong sân đền thờ).

Cầm lấy một quan tiền mà họ trao cho Ngài, Ngài hỏi họ: "Hình và danh hiệu nầy là của ai đây?" Họ đáp: "Của Xê-da". Ngài trả lời họ: "Của Xê-da trả về Xê-da; của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa".

Về phương diện lịch sử, đây là lần đầu tiên mà sự phân biệt giữa Thiên Chúa và quốc gia được diễn tả rõ nét nhất. Người Ki tô hữu vừa công dân trần thế vừa công dân Nước Trời. Đứng trước một sự phân biệt ấy người ta dể rơi vào hai thái độ quá khích: hoặc đặt nặng các giá trị công dân Nước Trời mà xem thường các giá trị công dân trần thế, hay quá chú tâm về các giá trị trần thế mà hờ hửng với những giá trị công dân Nước trời. Câu trả lời của Đức Giê-su "Của Xê-da trả về Xê-da; của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa" đặt người tín hữu trước hai bổn phận phải chu toàn: công dân trần thế và công dân nước trời. Cả hai không hề loại trừ nhau nhưng cùng hiện diện song song và có ảnh hưỡng hổ tương: tìm cách xây dựng Nước Trời qua nổ lực xây dựng trần thế bằng cách thăng tiến nó và làm cho nó thấm nhuần sự hiện diện của Thiên Chúa để cuối cùng dẫn đưa nó về Ngài. Như thế, phục vụ Thiên Chúa qua phục vụ tha nhân rồi. Đó cũng là lời dạy của Công Đồng Va-ti-can II: "Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngay nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki tô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ" (Gaudium et Spes).

Các đối thủ của Đức Giê-su nghĩ là đặt Ngài vào trong thế bí không có lối thoát, nhưng lại nhận ra rằng Ngài quán triệt vấn đề đến nỗi khiến họ phải kinh ngạc. Những kẻ muốn Ngài cứng họng phải gặp thấy ở nơi câu trả lời của Ngài một lời dạy rành mạch thấu tình đạt lý: một sự hiệp nhất cuộc sống của mỗi người tín hữu giữa bổn phận của công dân trần thế và bổn phận của công dân Nước Trời.

vao-ma-huong-niem-vui-19-11-chua-nhat-tuan-33-thuong-nien-nam-a
VÀO MÀ HƯỞNG NIỀM VUI (19.11 - Chúa nhật tuần 33 Thường niên Năm A)

Khi ấy, Đức Giêu nói với các môn đệ rằng: “Cũng như có người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ riêng của mình đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ông cho người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tùy khả năng riêng mỗi người.

xin-cho-toi-nhin-thay-20-11-thu-hai-tuan-33-thuong-nien
Xin cho tôi nhìn thấy (20.11 - Thứ hai Tuần 33 Thường niên)

Khi Ðức Giêsu gần đến Giêrikhô, có một người mù đang ngồi ăn xin ở vệ đường. Nghe thấy đám đông đi qua, anh ta hỏi xem có chuyện gì. Họ báo cho anh biết là Ðức Giêsu Nadarét đang đi qua đó. Anh liền kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, Con vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi!”

khong-duoc-nan-chi-18-11-thu-bay-tuan-32-thuong-nien
Không được nản chí (18.11 - Thứ bảy Tuần 32 Thường niên)

Khi ấy, Ðức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. Người nói: “Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: “Xin ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi.”

duoc-dem-di-bi-bo-lai-17-11-thu-sau-tuan-32-thuong-nien
Được đem đi, bị bỏ lại (17.11 - Thứ sáu Tuần 32 Thường niên)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Cũng như thời ông Nôê, sự việc đã xảy ra cách nào, thì trong những ngày của Con Người, sự việc cũng sẽ xảy ra như vậy. Thiên hạ ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nôê vào tàu, và nạn hồng thủy ập tới, tiêu diệt tất cả.

nuoc-thien-chua-16-11-thu-nam-tuan-32-thuong-nien
Nước Thiên Chúa (16.11 - Thứ năm Tuần 32 Thường niên)

Khi ấy, người Pharisêu hỏi Ðức Giêsu bao giờ Nước Thiên Chúa đến. Người trả lời: “Nước Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: ‘Ở đây này!’ hay ‘Ở kia kìa!’, vì này Nước Thiên Chúa đang ở giữa các ông.” Rồi Ðức Giêsu nói với các môn đệ: “Sẽ đến thời anh em mong ước được thấy một trong những ngày của Con Người thôi, mà cũng không được thấy.

sap-minh-ta-on-15-11-thu-tu-thanh-alberto-ca
Sấp mình tạ ơn (15.11 - Thứ tư - Thánh Albertô Cả)

Trên đường lên Giêrusalem, Ðức Giêsu đi qua biên giới giữa hai miền Samaria và Galilê. Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!” Thấy vậy, Ðức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.” Ðang khi đi thì họ đã được sạch. Một người trong bọn, thấy mặt được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.