kinhthanh

TRANG CHỦ li-category Chuyên đề li-category Đức Giêsu thành Nadarét (1)

 


ĐỨC GIÊSU THÀNH NADARÉT




PHẦN I

 

TỪ PHÉP RỬA NƠI SÔNG GIOĐAN

ĐẾN LÚC HIỂN DUNG

 

 

 

Tác giả : JOSEPH  RATZINGER

(Đức Giáo Hoàng BÊNÊĐICTÔ XVI)

 

 

 2007 VERLAG HERDER

Breiburg im Bresgau

 

 

 

Dịch giả : Linh mục Augustinô NGUYỄN VĂN TRINH

 

 

 

 

 

NỘI DUNG

 

Tiền đề

Dẫn nhập         :  Cái nhìn đầu tiên về mầu nhiệm Chúa Giêsu

CHƯƠNG I     : Phép rửa

CHƯƠNG II   : Các cơn cám dỗ

CHƯƠNG III  : Tin Mừng về Nước Trời

CHƯƠNG IV  : Bài giảng trên núi

1.    Các lời chúc phúc

2.    Tora của Đấng Messias

      Người xưa đã nói – nhưng Tôi nói với anh em
Tranh luận về ngày Sabbat
Giới răn thứ 4 – gia đình, dân chúng và cộng đoàn môn đệ của Đức Giêsu
Thỏa thuận và tính triệt để mang tính ngôn sứ

CHƯƠNG V  : Lời kinh của Chúa

Lạy Cha chúng con ở trên trời
Nguyện cho Danh Cha được cả sáng
Nước Cha trị đến
Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời
Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày
Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con
Xin chớ  để chúng con sa chước cám dỗ
Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ

CHƯƠNG VI   : Các môn đệ

CHƯƠNG VII : Tin Mừng của các dụ ngôn

1.    Bản chất và mục đích các dụ ngôn

2.    Ba trình thuật dụ ngôn theo Luca

Dụ ngôn về người Samaritanô nhân hậu (Lc 10,25-37)

Dụ ngôn về hai anh em (người con đã mất và trở về nhà) và người cha nhân hậu (Lc 15,11-32)

Dụ ngôn về người giàu có và anh ăn mày Lazarô (Lc 16,19-31)

CHƯƠNG VIII : Những hình ảnh vĩ đại theo Phúc Âm thánh Gioan

1.    Dẫn nhập : Vấn nạn về Phúc Âm thánh Gioan

2.    Những hình ảnh vĩ đại của Phúc Âm thánh Gioan

Nước
Cội nho và cây nho
Bánh
Người chăn chiên

CHƯƠNG IX : Hai dấu quan trọng trên con đường của Đức Giêsu :

Tuyên xưng của thánh Phêrô

Hiển dung

1.    Tuyên xưng của thánh Phêrô          

2.    Hiển dung

CHƯƠNG X : Những lời Đức Giêsu nói về chính mình

Con Người
Người Con
“Chính Ta”

 

 

TIỀN ĐỀ


    Tôi đã trăn trở với quyển sách Giêsu này rất lâu, hôm nay cho in phần một. Vào thời trẻ – khoảng thập niên 30 và 40 – đã có những quyển sách về Đức Giêsu rất nổi tiếng của các tác giả, tỉ như: Karl Adam, Romano Guardini , Franz Michel Willam, Giovanni Papini, Daniel-Rops. Trong tất cả các sách này hình ảnh của Đức Giêsu Kitô được trình bày từ các Phúc Âm, như là một con người trên mặt đất – hoàn toàn là người – nhưng đồng thời mang Thiên Chúa đến cho con người, đối với Thiên Chúa, Người thật sự là Con. Đối với con người, Đức Giêsu là Thiên Chúa và là hình ảnh con người đích thực nhìn từ Thiên Chúa.

    Hoàn cảnh thay đổi vào thập niên 50. Sự phân cách giữa “Đức Giêsu lịch sử” với “Đức Kitô của niềm tin” càng ngày càng sâu thêm, cả hai xem như đối kháng với nhau. Niềm tin vào Đức Giêsu là Đức Kitô, vào Đức Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, còn mang ý nghĩa gì, khi con người Đức Giêsu lại rất khác với những gì các Phúc Âm trình bày và khác với những gì Hội thánh rao giảng về Người căn cứ trên các Phúc Âm ?

    Những tiến bộ về phương pháp phê bình lịch sử đưa đến những phân biệt ngày càng tế nhị giữa các lịch sử lưu truyền (Traditionsgeschichte), mà sau các từng lớp này hình dạng của Đức Giêsu bị tách khỏi đức tin, bị lu mờ đi, làm mất các ranh giới. Nhưng đồng thời việc tái hiện Đức Giêsu, được tìm tòi trong các lưu truyền của các Phúc Âm gia và sau các nguồn gốc, luôn đối kháng với nhau : từ một nhà cách mạng chống lại Rôma luôn tìm cách lật đổ các quyền lực hiện hành, nhưng thất bại, cho đến một nhà đạo đức hiền từ, cho phép tất cả và nhìn tất cả một cách khó hiểu. Ai đọc để so sánh các sự tái hiện này với nhau, sẽ nhận ra rằng đó chỉ là những mẫu ảnh và những lý tưởng của các tác giả như những hình ảnh mờ ảo được công khai hóa. Sự nghi ngờ về các hình ảnh của Đức Giêsu như thế càng ngày càng gia tăng, gương mặt của Đức Giêsu cũng càng ngày càng xa dần chúng ta.

    Có thể nói kết quả của những cố gắng này để lại cho chúng ta một ấn tượng, chúng ta không có gì chắc chắn để biết Đức Giêsu và có lẽ niềm tin vào thiên tính của Người sau này mới tạo nên hình ảnh của Người. Ấn tượng này thấm nhập vào ý thức chung của Kitô giáo. Một hoàn cảnh thật bi đát cho niềm tin, vì điểm tham chiếu không có gì là vững chắc : niềm tin đến từ tình bạn hữu sâu xa với Đức Giêsu, nhưng tình bạn này đang bị hăm dọa rơi vào hư không.

    Nhà Kinh Thánh người Đức nổi tiếng nhất vào giữa thế kỷ 20 là Rudolf Schnackenburg ; vào những năm cuối đời, ông cảm nghiệm rõ ràng nỗi khó khăn thực tại của đức tin vì phải  đối mặt với những thiếu sót trong các hình ảnh Đức Giêsu theo cái nhìn “lịch sử” mà các nhà Thánh Kinh đã tạo nên, ông đãviết tác phẩm vĩ đại cuối cùng : Die Person Jesu Christi im Spiegel der vier Evangelien (Herder 1993) – Con người Đức Giêsu Kitô theo cái nhìn của bốn Phúc Âm. Quyển sách phục vụ cho các Kitô hữu, “những người ngày hôm nay bị các phương pháp khoa học làm cho bất an, để giữ vững đức tin vào con người Đức Giêsu Kitô là Đấng mang lại ơn cứu độ và là Đấng Cứu độ trần gian” (trang 6). Vào cuối quyển sách, Schnackenburg đưa kết luận như thành quả suốt cuộc đời mình, “với cố gắng tìm tòi cách khoa học theo phương pháp phê bình lịch sử, sẽ không thể đưa đến một gương mặt của Đức Giêsu thành Nadarét cách chắc chắn được” (trang 348) ; “nếu những cố gắng giải thích theo cách khoa học … để nhìn vào những truyền thống và cố gắng đưa về những chứng cứ đáng tin theo lịch sử … sẽ luôn bị lôi kéo vào tranh luận giữa lịch sử lưu truyền và lịch sử ghi chép, và như thế sẽ không  bao giờ có được sự bình yên” (trang 349).

    Trong cách trình bày riêng của mình về hình dạng Đức Giêsu, do những yêu cầu của phương pháp mà ông thấy là trách nhiệm nhưng lại chưa đủ, vẫn tồn tại một phân cách rõ ràng : Schnackenburg cho chúng ta thấy hình ảnh Đức Kitô của các Phúc Âm, nhìn hình ảnh này từ nhiều từng lớp truyền thống thật đa dạng, qua đó người ta nhận chân được Đức Giêsu “đích thực”. Ngài viết : “Nền tảng lịch sử phải có trước, nhưng cái nhìn đức tin của các Phúc Âm phải vượt lên trên” (trang 353). Điều này không ai nghi ngờ cả ! Thế nhưng “nền tảng lịch sử” đi xa tới đâu, điều này không rõ mấy. Schnackenburg đưa ra điểm quyết định rõ ràng như một sự kiện lịch sử : đó là việc liên hệ và gắn bó với Thiên Chúa của Đức Giêsu. “Không có sự gắn kết vào Thiên Chúa, con người Đức Giêsu như ảo ảnh, không thực tại và không thể giải thích được” (trang 354).

    Đó cũng là điểm kết cấu cho quyển sách của tôi : quyển sách sẽ nhìn Đức Giêsu trong sự hiệp thông với Chúa Cha, đó là trung tâm điểm con người của Ngài, không có điểm này chúng ta không thể hiểu gì cả và cũng từ điểm đó mà Người đang hiện diện cho chúng ta.

    Trong việc trình bày cụ thể gương mặt Đức Giêsu, tôi cố gắng quyết định vượt lên trên Schnackenburg. Vấn đề về việc xác định liên hệ giữa các truyền thống và lịch sử đã diễn ra, đối với tôi nổi bật rõ ràng trong câu : các Phúc Âm muốn bao bọc “Con Thiên Chúa đầy huyền nhiệm, xuất hiện trên trái đất với xác thể…” (trang 354). Tôi muốn nói thêm rằng : các Phúc Âm không cần phải “bao bọc” Người bằng xác thể, chỉ vì Người thực sự đã hóa thành con người. Đương nhiên – xác thể này có thể tìm được chính mình qua cả một rừng lưu truyền hay không ?  

    Trong tiền đề quyển sách của mình, Schnackenburg nói với chúng ta, ông buộc phải theo phương pháp phê bình lịch sử, mà Thông điệp Divino afflante Spiritu của năm 1943 đã cho phép các nhà thần học Công giáo sử dụng (trang 5). Thông điệp này là một điểm đánh dấu quan trọng cho môn chú giải Thánh Kinh Công giáo. Từ ngày đó, việc thảo luận về phương pháp bên trong Giáo hội Công giáo cũng như bên ngoài vẫn tiếp tục được trao đổi ; những cách nhìn chính yếu theo phương pháp  càng gia tăng – dù công tác lịch sử liên hệ chặt chẽ chung cho thần học và phương pháp lịch sử trong việc chú giải Thánh Kinh. Hiến chế Dei Verbum của Công đồng về Mạc khải đưa đến một bước tiến quyết định. Hai tài liệu của Ủy Ban Kinh Thánh Giáo hoàng đã đưa đến những nhận thức mới cho việc chú giải : Việc giải thích Thánh Kinh trong Hội thánh (trong tập Stimmen der Weltkirche, số 115, Bonn 1994) và Dân Do thái và Sách Thánh của họ trong quyển Thánh Kinh của Kitô giáo (như trên, số 152, Bonn 2001).

    Tôi muốn nói đến những định hướng về phương pháp rút từ các tài liệu trên ít nhất là những nét chính, những định hướng trên sẽ giúp tôi thực hiện quyển sách này. Trước tiên là phương pháp lịch sử – nhìn từ bản chất nội tại của thần học và đức tin – là một chiều kích không thể bỏ qua được trong công tác chú giải. Vì đối với niềm tin theo Thánh Kinh, niềm tin này phải rút ra từ những biến cố lịch sử. Niềm tin này không nhìn trình thuật lịch sử như biểu tượng về những chân lý mang tính lịch sử, nhưng đặt nền tảng trên lịch sử, là những biến cố diễn ra trên trái đất này. Factum historicum – sự kiện lịch sử đối với niềm tin không phải là mật mã mang tính biểu trưng có thể thay thế được, nhưng là nền tảng cơ bản : Et incarnatus est – với mệnh đề này chúng ta tuyên xưng việc Thiên Chúa thực sự bước vào lịch sử trần gian.

    Nếu chúng ta đẩy lui lịch sử này đi, thì đức tin cũng bị tiêu tan và trở thành một  hình thức tôn giáo khác. Nếu như lịch sử, theo nghĩa mang tính hiện thực, thuộc vào bản chất của đức tin Kitô giáo, thì phải thực hiện phương pháp lịch sử – niềm tin đòi buộc như thế. Hiến chế của Công đồng nêu trên trong số 12 nói rõ ràng điều này và còn kể tên từng yếu tố mang tính phương pháp cụ thể, cần phải chú trọng khi giải thích Thánh Kinh. Kỹ lưỡng hơn nữa còn có tài liệu của Ủy Ban Kinh Thánh về việc giải thích Sách Thánh trong chương Các phương pháp và hướng dẫn cho việc giải thích.

    Chúng ta nhắc lại, nhìn từ cơ cấu của đức tin Kitô giáo, phương pháp phê bình lịch sử không thể nào bị bỏ qua được. Nhưng chúng ta muốn thêm vào hai điểm : phương pháp này là một trong các chiều kích nền tảng cho việc chú giải, nhưng không được loại trừ phận vụ chú giải, phận vụ này phải nhìn các tác phẩm Thánh Kinh là một Sách Thánh và xác tín rằng chính Thiên Chúa đã linh hứng. Điều này chúng ta còn sẽ trở lại kỹ lưỡng hơn.  

    Tiếp đến – điểm thứ hai – thật quan trọng, phải chấp nhận ranh giới của phương pháp phê bình lịch sử. Ranh giới đầu tiên cho điều phải nói lên trong Thánh Kinh, nằm ở chỗ căn cứ vào bản chất phải đặt lời này vào trong quá khứ. Là phương pháp lịch sử nên phải tìm liên hệ của biến cố trong quá khứ, từ đó bản văn được viết ra. Phương pháp này nhận ra và tìm hiểu quá khứ, để truyền đạt điều mà tác giả trong thời điểm đó, trong liên hệ tư tưởng và biến cố, có thể và muốn nói lên. Nếu phương pháp lịch sử thực sự trung thành với chính mình, thì không những phải tìm lời trong quá khứ, nhưng còn phải đặt vào trong quá khứ. Phương pháp có thể biết được liên hệ với hiện tại, hiện thực, tìm cách áp dụng vào hiện tại, nhưng “hiện tại” thì phương pháp không được phép làm, vì vượt quá ranh giới của mình. Tính chính xác trong việc chú giải điều quá khứ vừa là điểm mạnh nhưng cũng là ranh giới của phương pháp.

    Còn một điểm liên hệ. Là phương pháp lịch sử phải tiên quyết nhìn mọi sự kiện lịch sử cách đồng đều vì thế phương pháp này phải nhìn những lời đang tìm hiểu là lời của con người. Khi suy luận, phương pháp này có thể cảm nhận “có một cái gì chứa chất giá trị cao hơn” ẩn giấu trong lời, có thể một chiều kích cao hơn ngang qua lời con người và khai mở sự siêu vượt của phương pháp, thế nhưng đối tượng là lời con người và thuần túy là nhân bản.

    Cuối cùng phương pháp này nhìn từng quyển sách Thánh Kinh trong thời gian lịch sử của chúng và có thể tìm về nguồn gốc xa xôi hơn, nhưng sự thống nhất của tất cả các tác phẩm này là “Thánh Kinh” thì đối với phương pháp này không thể là một thực tại lịch sử cách trực tiếp được. Đương nhiên, phương pháp này có thể thấy những bước tiến phát triển, việc gia tăng các cách lưu truyền và nhìn từng tác phẩm thực sự là một “tác phẩm”, cần thiết phải lần về nguồn gốc của từng bản văn và đặt chúng vào trong quá khứ của chúng để có thể bổ túc cho quá trình tìm về sự thống nhất của bản văn.

    Đấy là ranh giới tất cả mọi cố gắng để xác định nhận thức về quá khứ, nhưng không thể vượt qua các giả thuyết, chỉ vì chúng ta không thể đem quá khứ vào trong hiện tại được. Thật vậy, có những giả thuyết có mức độ chính xác cao, nhưng cách chung chúng ta phải ý thức về ranh giới những sự hiểu biết của chúng ta – lịch sử cho thấy rõ ràng ranh giới đối với môn chú giải hiện tại.

    Một mặt, tôi muốn nói đến ý nghĩa của phương pháp phê bình lịch sử, nhưng mặt khác cũng nói lên ranh giới của phương pháp này. Tôi cũng hy vọng, với việc định ranh giới này chúng ta cũng thấy được rằng phương pháp có thể vượt qua bản chất của mình và mở ngõ cho những phương pháp bổ túc khác. Trong lời thuộc quá khứ, vấn đề được nêu lên là làm sao ngày nay có thể đón nhận được. Trong lời của con người còn âm vang điều vĩ đại hơn ; cách nào đó từng tác phẩm đều hướng đến tiến trình sống động của một tác phẩm chứa chất trong đó.

    Về điều cuối cùng này, vào thập niên 30 bên Mỹ có một dự án về “chú giải bản văn theo kinh bộ”, với ước muốn khi đọc từng tác phẩm phải biết đọc trong sự thống nhất của tác phẩm, nhờ đó tất cả các tác phẩm đều soi rọi vào một ánh sáng mới. Hiến chế Mạc khải của Công đồng Vatican II đã đưa ra một nguyên tắc căn bản cho việc chú giải Kinh Thánh : ai muốn hiểu Sách Thánh theo tinh thần mà tác phẩm được viết, phải chú trọng đến nội dung và sự thống nhất của toàn bộ Kinh Thánh. Công đồng còn thêm, cũng phải chú tâm đền việc lưu truyền sống động của toàn thể Hội thánh và sự tương ứng của đức tin (sự đáp ứng nội tại trong đức tin) [Dei Verbum, số 12]

    Chúng ta dừng lại ở sự thống nhất của Thánh Kinh. Đó là một thực tại thần học, nhưng không phải được đặt ra từ bên ngoài do sự tổng hợp các tác phẩm. Với môn chú giải tân tiến điều này rất rõ ràng, phải luôn đọc lại việc hình thành tác phẩm trong lời lưu truyền trong Thánh Kinh : bản văn cũ phải được đón nhận, đọc và hiểu cách mới mẽ trong hoàn cảnh mới. Cách đọc mới mẽ, đọc liên tục, trong việc đào sâu và triển khai đều mang theo việc hình thành tác phẩm như tiến trình của lời, được triển khai dần dần tất cả khả năng nội tại của mình, tương tự như hạt giống đã được gieo, nhưng chỉ mở ra khi có sự đòi hỏi của hoàn cảm mới, trong cảm nghiệm và cả trong thất bại.

    Nếu ai xuất phát từ Đức Giêsu Kitô nhìn lại tiến trình này – thường không thẳng đường, lại bi đát, nhưng vẫn tiến tới – có thể nhận thấy rằng có một hướng đi nằm trong toàn bộ : nghĩa là Cựu Ước và Tân Ước đều thuộc vào nhau. Chắc chắn, việc giải thích theo chiều kích Đức Kitô, luôn nhìn Đức Giêsu Kitô như chìa khóa cho toàn bộ và học hỏi từ Người để hiểu Thánh Kinh là một khối thống nhất, sẽ đưa ra cách tiên thiên một quyết định của niềm tin và không thể chỉ xuất phát thuần túy từ phương pháp phê bình lịch sử. Quyết định của đức tin này đều có lý trí – một ý thức về lịch sử – có khả năng nhìn sự thống nhất nội tại của Thánh Kinh và có thể hiểu từng phần cách mới mẽ mà không tách chúng ra khỏi nguồn gốc lịch sử của chúng.

    “Chú giải theo kinh bộ” – đọc từng bản văn riêng lẽ của Thánh Kinh trong toàn bộ – là một chiều kích căn bản của việc giải thích Thánh Kinh mà không gặp khó khăn gì với phương pháp phê bình lịch sử , nhưng vẫn tiếp nối cách cơ cấu và trở thành thần học đặc biệt.

    Còn hai phương diện nữa của môn chú giải thần học mà tôi muốn nêu lên đây. Việc chú giải theo phương pháp phê bình lịch sử tìm cách truyền đạt ý nghĩa ban đầu cách chính xác của ngôn từ, như chúng xuất phát từ không gian và thời gian nguyên thủy của chúng. Điều này tốt và quan trọng.  Nhưng – bỏ qua tính chất chính xác tương đối của những tái hiện này – điều quan trọng mà ngày nay phải giữ, đó là ngôn ngữ con người còn chứa chất nhiều điều quan trọng mà tác giả vào thời của ông đã trực tiếp ý thức. Giá trị nội tại cao hơn mặt chữ, vượt qua thời gian của mình, từ lời được đón nhận trong tiến trình của lịch sử  đức tin. Chỉ vì tác giả không nói tự mình và cho mình. Ngài nói từ một lịch sử chung mà ngài sống và trong đó các khả năng cho tương lai, con đường tiếp tục phải đi đều hiện diện một cách thầm lặng. Tiến trình của việc đọc sâu hơn và những triền khai từ lời có lẽ sẽ không thực hiện được, nếu như những khai mở nội tại này đã không hiện hiện ngay trong lời.

    Về điểm này chúng ta có thể cảm nghiệm được linh hứng là gì theo chiều kích lịch sử : tác giả không nói như chủ thể cá nhân, chủ thể đóng kín nơi bản thân. Ngài nói trong một cộng đoàn sống động, trong một chuyển động của lịch sử mà ngài không tạo nên và cả cộng đoàn cũng vậy, nhưng trong một sức lực hướng dẫn mạnh mẽ đang hoạt động. Có những chiều kích của lời, mà giáo lý cổ xưa đã nói về 4 ý nghĩa. Bốn ý nghĩa của lời không phải là những ý nghĩa đơn độc nằm cận kề với nhau, nhưng là chiều kích của một lời, lời đó vượt ra khỏi thời gian của nó.

    Như thế là phương diện thứ hai đã được nêu lên mà tôi lại muốn nói thêm. Từng quyển sách của Thánh Kinh như một khối thống nhất không được xem như tác phẩm văn chương đơn thuần. Thánh Kinh lớn dậy trong và từ chủ thể sống động của dân Thiên Chúa đang lữ hành và sống trong đó. Chúng ta có thể nói, những tác phẩm Thánh Kinh hướng về ba chủ thể cùng hoạt động. Trước tiên là từng tác giả hay nhóm tác giả, mà chúng ta cám ơn vì tác phẩm của họ. Nhưng các tác giả này không phải là những tác giả độc lập theo nghĩa hôm nay, họ thuộc về chủ thể chung của dân Chúa, từ dân này mà họ nói cho dân này, chính dân này mới thực sự là “tác giả” sâu xa của các tác phẩm. Tóm lại : dân này không đứng độc lập cho bản thân mình, nhưng biết rõ họ được Thiên Chúa hướng dẫn và trong sâu thẳm, Người nói – qua con người và nhờ nhân tính của họ.

    Sự liên hệ với chủ thể “dân Thiên Chúa” sẽ làm cho Thánh Kinh thật sống động. Một mặt  quyển sách này – quyển Thánh Kinh – là mẫu mực do Thiên Chúa mà đến và là sức lực hướng dẫn cho dân, nhưng mặt khác Thánh Kinh sống trong chính dân này, nhưng lại thường vi phạm và – từ trong sâu thẳm của Lời hóa thành nhục thể – họ chính là dân của Thiên Chúa. Dân Thiên Chúa – Hội thánh – là chủ thể sống động của Thánh Kinh ; trong Hội thánh lời Thánh Kinh luôn hiện diện. Đương nhiên, dân này xuất phát từ Thiên Chúa và cuối cùng từ Đức Kitô mang lấy xác phàm, đón nhận và hoàn toàn để cho Người cấu tạo và dẫn dắt. 

    Tôi phải chịu trách nhiệm với các đọc giả về hướng dẫn phương pháp này, vì phương pháp này xác định lối trình bày của tôi về gương mặt Đức Giêsu trong Tân Ước (so với những lời hướng dẫn về các tác phẩm phải đọc). Đối với cách trình bày của tôi về Đức Giêsu, điều trước tiên là tôi tin tưởng vào các Phúc Âm. Đương nhiên với cả những gì Công đồng và môn chú giải tân tiến nói về các loại văn chương, về ý định phát biểu, về liên hệ cộng đoàn của các Phúc Âm và những lời nói trong liên hệ sống động. Tất cả những điều này đều được đón nhận – trong khả năng của tôi – tôi chỉ muốn cố gắng trình bày Đức Giêsu của các Phúc Âm như Đức Giêsu thật sự, như Đức Giêsu “lịch sử” theo đúng nghĩa. Tôi xác tín và hy vọng rằng hình dạng này mang nhiều hợp lý hơn, cả về mặt lịch sử, dễ hiểu hơn những hình dạng được tái lập  mà chúng ta phải chạm trán trong những thập niên cuối cùng này. Tôi nghĩ rằng, chính Đức Giêsu – Đức Giêsu của các Phúc Âm – là hình ảnh mang đầy tính chất lịch sử và thống nhất.

    Nhưng nếu có gì bất thường xảy đến, khi hình dạng và lời của Đức Giêsu vượt quá các hy vọng và mong chờ theo đại chúng, thì thập giá của Người đã minh chứng và cho thấy hiệu năng của mình. Chỉ khoảng 20 năm sau cái chết của Đức Giêsu, chúng ta đã gặp bài thánh thi tuyệt vời trong thư gởi giáo đoàn Philípphê (2,6-11), một bài Kitô học được trình bày cách trọn vẹn, trong đó nói về Đức Giêsu : Người là Thiên Chúa, nhưng cởi bỏ chính mình, trở thành con người, tự hạ cho đến chết trên thập giá và rồi cả vũ trụ thần phục Người, thờ lạy Người, đó là điều Thiên Chúa công bố như nơi ngôn sứ Isaia (45,23). Người xứng đáng được như thế.

    Phương pháp phê bình có lý khi đặt câu hỏi : điều gì đã diễn ra trong 20 năm sau ngày Đức Giêsu bị đóng đinh thập tự ? Làm thế nào Kitô học đã được hình thành ? Tác động của việc hình thành các cộng đoàn mà người ta cố gắng đi tìm các vị lãnh đạo, trong thực tế không giải thích được gì cả. Làm thế nào số đông tổng hợp vô danh lại có ý thức sáng tạo như thế ? một cách xác tín và kiên vững ? Đứng về mặt lịch sử có thể giải thích cách hợp lý, có điều gì vĩ đại xuất hiện từ ban đầu mà hình dạng của Đức Giêsu trong thực tế đã bung ra khỏi những phạm trù hiện hành và chỉ có thể hiểu được từ Thiên Chúa ? Đương nhiên, để có thể tin, Đức Giêsu là con người, nhưng là Thiên Chúa thật, điều này còn ẩn kín sau các dụ ngôn và thường bị hiểu sai, điều này đã vướt qua các khả năng của phương pháp lịch sử. Ngược lại – khi người ta xuất phát từ chứng cứ đức tin mà đọc các bản văn theo phương pháp lịch sử và việc khai mở thâm sâu cho điều vĩ đại, thì sẽ thấy một con đường và một bóng dáng đáng tin. Vì thế, phải thấy rõ việc nghiềm ngẫm nhiều tầng lớp xuất hiện trong Tân Ước về gương mặt Đức Giêsu và sự đồng thuận từ những sự khác biệt với Sách Thánh.

    Rõ ràng với cái nhìn về hình dạng Đức Giêsu, tôi vượt lên điều mà Schnackenburg như người đại diện cho một số đông nhà chú giải hiện tại đã nói. Tôi hy vọng rằng các đọc giả thấy rõ, quyển sách này không được viết để chống lại môn chú giải hiện tại, nhưng thật cám ơn môn này đã ban tặng chúng ta thật nhiều và vẫn còn tặng ban. Môn này đã cho chúng ta rất nhiều chất liệu và tầm nhìn, qua đó hình dạng của Đức Giêsu có thể trở nên sống động và sâu xa cho chúng ta trong ngày hôm nay, mà trước vài thập niên chúng ta không dám nghĩ tới. Tôi chỉ cố gắng, vượt lên trên cách trình bày phê bình lịch sử để áp dụng những cái nhìn mang tính phương pháp mới mẻ, cho phép chúng ta giải thích Thánh Kinh theo thần học và trong niềm tin, nhưng không được phép loại bỏ những điều cơ bản của tính chất lịch sử.

    Tôi phải nói, quyển sách này không phải là tài liệu của Huấn quyền, nhưng chỉ là việc trình bày các tìm hiểu của cá nhân tôi “trước nhan thánh Chúa” (x. Tv 27,8). Cho nên mỗi người có quyền tự do để chống lại tôi. Tôi chỉ xin đọc giả nên có cảm tình trước để có thể hiểu được sách này. Như ngay đầu tiền đề tôi đã nói, tôi đã suy nghĩ thật lâu về quyển sách này. Những nét chữ đầu tiên đã được ghi chép vào kỳ nghỉ hè năm 2003. Vào tháng 8 năm 2004 tôi đã viết xong chương 1 đến chương 4. Sau khi được bầu vào ngai tòa Giám mục thành Rôma, tôi đã lợi dụng mọi giây phút rảnh rỗi để chuẩn bị cho quyển sách này.

    Vì tôi không biết, Thiên Chúa tặng ban cho tôi thời gian và sức lực cho đến bao lâu nữa, nên quyết định cho ra mắt mười chương đầu, từ phép rửa ở sông Giođan cho đến lúc thánh Phêrô tuyên xưng và Hiển Dung, như phần đầu của quyển sách.

    Với phần hai, tôi hy vọng sẽ có thể  đưa ra chương về lịch sử thời thơ ấu, tôi đặt sau, vì theo tôi rất quan trọng để trình bày hình dạng và sứ điệp của Đức Giêsu trong hoạt động công khai và giúp cho việc liên hệ với Người càng ngày càng gia tăng.

        Rôma, vào lễ thánh Hiêrônimô
        Ngày 30 tháng 9 năm 2006
                
                                              JOSEPH RATZINGER  - BENEDIKT XVI

 

 

ngay-the-gioi-nguoi-ngheo-lan-i-tai-vatican
Ngày Thế giới người nghèo lần I tại Vatican

Theo tin tức từ Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin mừng, tổ chức chịu trách nhiệm tổ chức Ngày Thế giới người nghèo lần I, sẽ có hơn 4000 người nghèo và chung chung là những người không phải là người giàu, sẽ tham dự Thánh lễ vào Chúa nhật ngày 19/11 tới đây, nhân Ngày Thế giới người nghèo lần I.

hoi-dong-giam-muc-viet-nam-thu-keu-goi-cau-nguyen-va-cong-tac-cuu-tro-nan-nhan-lu-lut
Hội đồng Giám mục Việt Nam: Thư kêu gọi cầu nguyện và cộng tác cứu trợ nạn nhân lũ lụt

Những ngày vừa qua, bão số 12 (Bão Damrey) với sức tàn phá khủng khiếp đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của tại các tỉnh miền Trung. Liền ngay sau bão, những trận mưa lớn gây ngập lụt trên diện rộng, trải dài nhiều tỉnh thành như: Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Định, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Lâm Đồng. Tính đến trưa ngày 9-11-2017, đã có 106 người chết, 25 người mất tích. Có thể đây vẫn chưa là con số thống kê cuối cùng.

y-cau-nguyen-cua-duc-thanh-cha-thang-muoi-mot-2017-lam-chung-cho-tin-mung-tai-chau-a
Ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha - Tháng Mười Một 2017: Làm chứng cho Tin Mừng tại Châu Á

Vatican. Trong tháng 11 năm 2017 này, Đức Thánh Cha đặc biệt mời gọi mọi người cầu nguyện cho các Kitô hữu tại Châu Á, để các Kitô hữu nơi đây có thể sống chứng nhân cho Tin Mừng giữa một xã hội rất đa dạng về truyền thống, văn hóa và tôn giáo.

su-diep-duc-thanh-cha-gui-cac-tu-hoi-doi
Sứ điệp Đức Thánh Cha gửi các tu hội đời

ĐTC kêu gọi các thành viên các tu hội đời hãy mang vào trần thế, vào những hoàn cảnh mình sinh sống, lời đã lắng nghe từ Thiên Chúa. Ngài đưa ra lời mọi gọi trên đây trong sứ điệp gửi các tham dự Hội nghị các tu hội đời Italia, nhóm tại Học Viện Augustinianum ở Roma trong hai ngày 28 và 29-10-2017 nhân dịp kỷ niệm 70 năm Tông hiến ”Provida Mater Ecclesiae” (Mẹ quan phòng của Giáo Hội), do ĐGH Piô 12 ban hành về các tu hội đời.

duc-thanh-cha-an-dinh-thang-truyen-giao-dac-biet
Đức Thánh Cha ấn định Tháng Truyền Giáo đặc biệt

ĐTC ấn định tháng đặc biệt về truyền giáo vào tháng 10 năm 2019.  Ngài đưa ra quyết định trên đây trong thư gửi ĐHY Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ Truyền giáo, và được công bố hôm chúa nhật 22-10-2017, trong đó ngài nhấn mạnh rằng ”Tháng đặc biệt về truyền giáo nhắm thức tỉnh mạnh mẽ hơn nơi các tín hữu ý thức truyền giáo cho dân ngoại và phục hồi với một đà tiến mới sự biến đổi cuộc sống và việc mục vụ theo tinh thần truyền giáo”.  

kinh-lay-cha-moi-se-co-hieu-luc-vao-ngay-3-thang-12-2017
Kinh Lạy Cha mới sẽ có hiệu lực vào ngày 3 tháng 12-2017

Ngày 31 tháng 3 vừa qua, Hội đồng Giám mục Pháp đã loan báo, ngày chúa nhật đầu tiên Mùa Vọng 3 tháng 12, bản Kinh Lạy Cha mới sẽ có hiệu lực, thay vì đọc như mọi khi: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” thì giáo dân sẽ đọc: “Xin đừng để chúng con vào trong cám dỗ” (tạm dịch).Vatican cũng đã chứng thực sự thay đổi này vào mùa hè năm 2013. Nhưng việc áp dụng đã hoãn lại nhiều lần, do các quan điểm khác nhau giữa các hội đồng giám mục vùng nói tiếng Pháp và Bộ Phụng tự ở Rôma.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.