kinhthanh

TRANG CHỦ li-category Chuyên đề li-category Đức Giêsu thành Nadarét (3)

 


CHƯƠNG MỘT

 

ĐỨC GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

 

                                                                                                                                                                     
    Hoạt động công khai của Đức Giêsu bắt đầu bằng phép rửa của Gioan Tẩy Giả nơi sông Giođan. Thánh Mátthêu chỉ ghi ngày tháng theo kiểu hình thức : “Bấy giờ”, trong khi đó thánh Luca lại đặt sự kiện này vào thời biểu của lịch sử thế giới, đưa ra ngày tháng có thể chính xác. Đương nhiên, thánh Mátthêu muốn nêu một hình thức thời biểu khi ngài đưa gia phả của Đức Giêsu đi trước Phúc Âm, một gia phả xây dựng trên Abraham và Đavít, và Đức Giêsu là miêu duệ của lời hứa cho Abraham cũng như miêu duệ của lời nói Thiên Chúa cho Đavít : dù tội lỗi của Isarel và sự trừng phạt của Thiên Chúa, Đavít vẫn nhận được lời hứa về một vương triều bất tận. Theo gia phả này, lịch sử được chia ra ba lần mỗi lần 14 thế hệ – 14 là giá trị bằng con số của danh tính vua Đavít : lịch sử được chia ra giai đoạn từ Abraham đến Đavít, từ Đavít đến thời lưu đày ở Babylon, rồi tiếp đến 14 thế hệ. Giai đoạn này, khi 14 thế hệ đi qua, cho thấy thời gian của vị Đavít cuối cùng, của vương triều được canh tân của Đavít như việc Thiên Chúa thiết lập vương triều cho chính mình.

    Trong gia phả của Đức Giêsu, vì tác giả Phúc Âm Mátthêu xuất thân từ nhóm Kitô hữu gốc Do thái (Judeo-Christen), nên ngài  không chú tâm đến lịch sử thế giới cho bằng nhấn mạnh đến vương triều của vị Đavít cuối cùng (Đức Giêsu) cũng là vương triều của Thiên Chúa đi vào thế giới. Dù vậy việc nêu thời biểu cũng còn mơ hồ, vì cách tính các thế hệ không đầy đủ như cơ cấu lịch sử được hình thành từ ba bước tiến của lời hứa và không cố ý xác định thời gian cụ thể.
Chúng ta phải chú ý rằng, thánh Luca không đặt gia phả vào khởi đầu Phúc Âm, nhưng liên hệ với câu chuyện phép rửa, được xem như đoạn kết cho cả sự kiện. Ngài nói với chúng ta, lúc đó Đức Giêsu khoảng chừng 30 tuổi và với tuổi đời như thế có thể bước vào hoạt động công khai. Ngược với thánh Mátthêu, thánh Luca bắt đầu từ Đức Giêsu quay về lịch sử quá khứ ; Abraham và Đavít không được nhấn mạnh cách đáng kể – gia phả lần về Ađam, đến sáng tạo ; thánh Luca còn thêm vào tên Ađam là “từ Thiên Chúa”. Như thế sứ vụ phổ quát của Đức Giêsu đã được nêu rõ ràng : Người là con cháu của Ađam–Con Người. Chính qua nhân tính mà chúng ta thuộc về Người và Người thuộc về chúng ta ; nhân loại được khởi sự lại mới mẻ trong Người và đạt tới cùng đích của mình.

    Trở lại với phép rửa. Trong những trình thuật thời thơ ấu, thánh Luca có đưa hai thời biểu quan trọng. Bắt đầu câu chuyện về vị Tẩy Giả, Luca nêu thời gian rõ rệt “thời vua Hêrôđê cai trị miền Giuđê” (1,5). Trong khi thời biểu của vị Tẩy Giả rơi vào lịch sử của Do thái, thì lịch sử thời thơ ấu của Đức Giêsu bắt đầu bằng những lời sau đây : “Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ…” (2,1). Lịch sử thế giới vĩ đại được thực hiện qua đế quốc Rôma, làm nền cho lịch sử Đức Giêsu.

    Sợi chỉ đỏ này Luca lấy từ lời dẫn nhập về lịch sử vị Tẩy Giả để đưa vào khởi đầu hoạt động công khai của Đức Giêsu. Bây giờ, ngài nói một cách long trọng và chính xác : “Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô ; thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê ; Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philípphê làm tiểu vương miền Iturê và Trankhonít, Lyxania làm tiểu vương miền Abilên ; Khanna và Caipha làm thượng tế…” (3,1-2). Lại một lần nữa tên vị hoàng đế Rôma được gợi lên vị trí thời gian của Đức Giêsu trong lịch sử thế giới : hoạt động của Đức Giêsu không phải thể hiện trong một thời gian huyền thoại nào đó, không nói lên gì cả ; nhưng đây là một biến cố cụ thể diễn ra trong lịch sử loài người – mang tính duy nhất hiện thực trong lịch sử chứ không phải vô thời gian như của huyền thoại.
Điều này không những nói lên thời biểu : hoàng đế và Đức Giêsu đại diện cho hai trật tự khác nhau của thực tại, như đối kháng, mang mầm mống xung khắc của một trong những vấn nạn nền tảng của nhân loại và sự hiện hữu của con người. “Của Xêda, trả về Xêda ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” là lời Đức Giêsu Kitô sẽ nói lúc sau này và diễn tả sự liên kết cơ bản của hai trật tự (Mc 12,17). Nhưng khi chế độ hoàng đế tự coi mình là thần thánh, như chính hoàng đế Augustô đã tự coi mình như người mang bình an cho thế giới  và là đấng cứu độ loài người, thì người Kitô hữu “phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời con người” (Cv 5,29) ; lúc đó các Kitô hữu sẽ trở thành các vị “tử đạo”, trở thành những chứng nhân của Đức Kitô, Đấng đã chết trên thập giá dưới thời quan Phongxiô Philatô như “chứng nhân trung tín” (Kh 1,5) . Với việc nêu tên Phongxiô Philatô, bóng cây thập giá đã phủ ngay vào lúc khởi đầu hoạt động của Đức Giêsu. Thập giá cũng được nêu lên trong các danh tính: Hêrôđê ; Khanna, Caipha. 

    Còn một điều khác nữa được biểu lộ giữa hoàng đế và các tiểu vương, giữa những người mà thánh địa phải chia tam xẻ tứ cho họ. Mọi địa hạt tiểu vương này đều lệ thuộc vào Rôma ngoại giáo. Vương quyền của Đavít  bị phá bỏ, “lều” của ông bị tan tành (Am 9,11-12) ; một miêu duệ của ông là người cha theo pháp lý của Đức Giêsu, là một người lao động trong vùng Galilê có đầy người ngoại giáo. Một lần nữa, Israel phải sống trong sự xa vắng Thiên Chúa, các lời hứa cho Abraham và Đavít như rơi vào thinh lặng của Thiên Chúa. Một lần nữa lời than trách lại vang lên : chúng tôi không còn vị ngôn sứ nào nữa, Thiên Chúa bỏ rơi dân của Người rồi. Vì thế đất nước tràn đầy sự bất ổn.

    Bầu khí chính trị làm nảy sinh những phong trào chống đối nhau, hy vọng và đợi chờ. Khoảng thời gian Đức Giêsu sinh ra, Giuđa người Galilê đã kêu gọi dân chúng nổi dậy, nhưng đã bị người Rôma diệt trừ trong máu lửa. Phe phái của ông ta, nhóm Zelot, vẫn tiếp tục tồn tại, sử dụng khủng bố và bạo lực với hy vọng đem lại tự do cho Israel ; có thể một hay hai tông đồ của Đức Giêsu xuất thân từ phe phái này – Simêôn thuộc nhóm Zelot và có lẽ cả Giuđa Ítcariốt. Nhóm Pharisêu, mà chúng ta gặp rất thường trong các Phúc Âm, cố gắng sống theo các chỉ dẫn của Lề Luật cách chính xác nhất và chống lại việc hòa nhập văn hóa duy nhất của Rôma – Hy-lạp, là thứ văn hóa đang được áp dụng trên toàn đế quốc Rôma và đang hăm dọa đem lối sống ngoại giáo vào Israel. Nhóm Sađốc, gồm các nhà quý tộc và hàng tư tế, cố gắng sống Do thái giáo của mình theo tinh thần của thời đại, vì thế họ cấu kết với kẻ thống trị Rôma. Sau khi đền thờ Giêrusalem bị tàn phá, nhóm này cũng biến mất (năm 70 scn), trong khi đó cách sống của nhóm Pharisêu còn gặp được trong hình dạng Do thái giáo mang đậm nét Mishna và Talmud. Nếu chúng ta chú ý trong các Phúc Âm, sự đối kháng mạnh mẽ giữa Đức Giêsu và nhóm Pharisêu, và cái chết thập tự của Người hoàn toàn đi ngược với kế hoạch của nhóm Zelot, chúng ta không được quên rằng có nhiều người từ mọi phong trào đã tìm đến Đức Kitô và cộng đoàn tiên khởi Kitô giáo bao gồm cả tư tế và người Pharisêu.

    Một cuộc tìm gặp thật tình cờ ở Qumran vào những năm sau thế chiến thứ hai ; những cuộc đào bới và gặp được nhiều bản văn, giúp các nhà chuyên môn tìm được những hướng dẫn đến phong trào mà ngày xưa dưới danh hiệu là nhóm Exênô, chỉ được biết qua các tác phẩm văn chương. Đó là một nhóm chống đối Đền Thờ Giêrusalem do Hêrôđê tái thiết và cả nền phượng tự tại đó ; họ đi vào sa mạc, lập thành những cộng đoàn đan sĩ, nhưng cũng có lối sống chung của nhiều gia đình ; họ viết nhiều tác phẩm phong phú cũng như có một nghi thức riêng biệt, đặc biệt là có nhiều việc thanh tẩy mang tính phụng vụ và cầu nguyện chung. Nét đặc thù của các tác phẩm này đánh động chúng ta ; điều này cho thấy Gioan Tẩy Giả và có lẽ cả Đức Giêsu và gia đình của ngài cũng gần gũi với cộng đoàn này. Thật vậy, có nhiều liên hệ giữa các tác phẩm Qumran với sứ điệp Kitô giáo. Không thể loại bỏ việc Gioan Tẩy Giả đã có một thời gian sống với cộng đoàn này và đã đón nhận phần nào cách nhìn tôn giáo của cộng đoàn này.

    Nhưng dù sao việc xuất hiện của Gioan Tẩy Giả cũng là một cái gì mới. Phép rửa ông thực hiện, khác với các việc thanh tẩy mang tính tôn giáo thông thường. Phép rửa không được lập lại và là một quyết định cụ thể cho một chuyển đổi xác định trọn cuộc đời. Phép rửa gắn liền với lời kêu gọi tha thiết để đưa đến suy nghĩ và hành động mới mẻ, nhất là liên kết với lời loan báo về cuộc phán xét của Thiên Chúa và lời báo trước một người vĩ đại sẽ đến sau Gioan. Phúc Âm thứ tư nói với chúng ta, vị Tẩy Giả “không biết Đấng vĩ đại” mà ông chỉ là người đi dọn đường (Ga 1,30-33), dọn đường cho một Đấng khác thật huyền bí, mà sứ vụ của ông nhằm vào con người này. 
 
   
Tất cả Phúc Âm đều diễn tả sứ vụ của Gioan bằng một đoạn của ngôn sứ Isaia : “Có tiếng hô: “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta” (Is 40,3). Thánh Máccô còn thêm một lời hòa trộn giữa ngôn sứ Malakhi (3,1) và sách Xuất hành (33,2) mà chúng ta gặp nơi khác nơi thánh Mátthêu (11,10) và thánh Luca (1,76 ; 7,27) : “ Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến”. Bản văn Cựu Ước muốn nhấn mạnh việc Thiên Chúa nhúng tay vào để cứu độ, Người bước ra khỏi nơi ẩn kín để phán xét và cứu độ ; vì thế phải mở cửa ra và chuẩn bị con đường cho Người. Với lời rao giảng của vị Tẩy Giả, lời hy vọng của ngày xưa trở thành hiện tại : báo trước về Đấng vĩ đại.

    Chúng ta nhận ra ấn tượng đặc biệt  do gương mặt và sứ điệp của vị Tẩy Giả trong bầu khí sôi sục của Giêrusalem gây nên. Cuối cùng thì một ngôn sứ xuất hiện ; cuộc đời của ông cho thấy thực tại của ông. Cuối cùng hành động của Thiên Chúa cũng xuất hiện trong lịch sử. Gioan dùng nước để làm phép rửa, nhưng Đấng vĩ đại sẽ làm phép rửa bằng Thánh Thần và lửa, Đấng ấy đang đứng ngoài cửa ngõ. Lời ghi chú của thánh Máccô không quá cường điệu : “Mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông ; họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan” (Mc 1,5). Việc xưng thú tội lỗi của mình gắn liền với phép rửa ; Do thái giáo trong bất cứ thời gian nào cũng biết đến việc xưng thú tội lỗi theo một hình thức chung, có cả việc xưng thú cá nhân, mỗi người trình bày rõ ràng các hành động tội lỗi của mình (Joachim Gnilka, Phúc Âm thánh Matthêu, Herder 1986, tr. 68). Điều này thực sự nhằm duyệt qua đời sống tội lỗi cho đến nay, để chuyển sang một đời sống mới.

    Tiến trình phép rửa mang đầy ý nghĩa. Một mặt việc nhấn chìm xuống nước là biểu trưng sự chết, sau biểu trưng cái chết là lụt đại hồng thủy phá tan và hủy diệt. Với quan niệm cổ, đại dương luôn là mối đe dọa đối với vũ trụ, đối với trái đất : lụt đại hồng thủy có thể chôn vùi tất cả sự sống. Việc nhấn chìm xuống cho thấy con sông mang hình bóng của biểu trưng này. Nhưng dòng sông trước tiên là biểu trưng cho sự sống : những con sông lớn – Nil, Euphrat, Tigris – biểu trưng cho sự ban phát vĩ đại của sự sống. Cho đến hôm nay, sông Giođan vẫn là nguồn sống cho vùng đất chung quanh. Ở đây còn nhắm đến việc thanh tẩy, để sạch khỏi mọi thứ nhơ bẩn quá khứ, tạo gánh nặng cho đời sống và nhằm vào việc bắt đầu lại, có nghĩa : xoay quanh cái chết và phục sinh, nhờ đó cuộc sống bắt đầu cách mới mẻ. Người ta có thể nói, điều này nhằm vào việc tái sinh. Tất cả những điều này được thần học về Thánh Tẩy của Kitô giáo triển khai cách rõ ràng, nhưng tất cả nằm trong việc bước xuống nước và bước lên khỏi sông Giođan.

    Chúng ta nghe nói cả vùng Galilê và Giêrusalem tiến đến để lãnh nhận phép rửa. Nhưng có một điều mới mẻ xảy ra : “Hồi ấy, Đức Giêsu từ Nadarét miền Galilê đến và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan” (Mc 1,9). Người ta đã không nói gì về những người hành hương từ Galilê ; hình như tất cả đều hạn hẹp trong vùng đất Do thái. Điều mới lạ không phải là Đức Giêsu từ xa xôi, từ một vùng xa lạ đến ; điều mới lạ là Người – Đức Giêsu – để Gioan làm phép rửa cho mình, đó là Người nhập đoàn với dòng người tội lỗi đang chờ đợi để được rửa bên bờ sông Giođan. Như chúng ta đã đọc bên trên, việc xưng thú tội lỗi thuộc vào phép rửa. Đó là việc xưng thú tội lỗi và cố gắng trình bày đời sống xa xưa, đầy thất bại, để được đón nhận một đời sống mới. Đức Giêsu có thể làm điều này không ? làm thế nào Người xưng thú tội lỗi được ? Cuộc đời lúc trước lại khác với cuộc đời mới sao ? Những câu hỏi này phải được các Kitô hữu đặt ra. Cuộc tranh luận giữa vị Tẩy Giả và Đức Giêsu do thánh Mátthêu thuật lại, nói lên câu hỏi của họ với Đức Giêsu : “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !” (Mt 3,14). Thánh Matthêu trình thuật tiếp : “Nhưng Đức Giêsu trả lời : “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính.” Bấy giờ ông Gioan mới chiều theo ý Người” (3,15).

    Cũng thực khó để hiểu câu trả lời rắc rối. Dù vậy trong từ arti – ngay bây giờ – có một nội dung rõ rệt : trong một hoàn cảch xác định phải có một hành động đúng đắn. Điểm quyết định câu trả lời của Đức Giêsu là làm nổi bật ý nghĩa từ “công chính” : sự “công chính trọn vẹn” phải được thực hiện cách đầy đủ. Trong thời Đức Giêsu, người ta hiểu sự công chính  là lời đáp trả của con người đối với Tora–Lề Luật, là việc đón nhận ý định trọn vẹn của Thiên Chúa, được công thức hóa bằng câu “mang lấy ách của Nước Thiên Chúa”. Phép rửa của Gioan không thấy có trong Tora, nhưng với lời này Đức Giêsu chấp nhận như biểu lộ tiếng thưa vâng hoàn toàn cho ý định của Thiên Chúa, như việc đón nhận ách của Người.

    Việc bước xuống trong nghi thức phép rửa mang ý nghĩa việc xưng thú lỗi lầm và lời cầu xin ơn tha thứ cho một khởi sự mới, nằm trong tiếng thưa vâng trọn vẹn với ý định của Thiên Chúa giữa một thế giới đầy dấu tội lỗi và cũng là cách biểu lộ sự liên đới với những người tội lỗi, nhưng vẫn cố gắng tiến đến sự công chính. Chỉ trong thập giá và phục sinh, ý nghĩa trọn vẹn của tiến trình này mới được nhận thức rõ ràng được. Khi bước xuống nước, những người lãnh phép rửa xưng thú tội lỗi của mình và tìm cách quăng đi gánh nặng do đã rơi vào tội lỗi nặng nề. Đức Giêsu đã làm gì ? Thánh Luca chú tâm vào việc cầu nguyện của Đức Giêsu trong Phúc Âm của mình ; Luca luôn trình diện Đức Giêsu lúc nào cũng đang cầu nguyện – trong đàm thoại với Chúa Cha, thánh nhân nói với chúng ta : đang khi cầu nguyện, Đức Giêsu lãnh nhận phép rửa (3,21). Kitô giáo chúng ta chỉ có thể hiểu những gì đã diễn ra từ thập giá và cuộc phục sinh của Đức Giêsu mà thôi : Đức Giêsu đã đón nhận gánh tội lỗi của cả nhân loại trên vai của mình ; Người mang gánh nặng này xuống sông Giođan. Người khai mở hoạt động của mình bằng cách nhận vị trí của các tội nhân. Người khai mở với việc tiền dự vào thập giá. Có thể nói Người là Giôna đích thực, vị ngôn sứ này đã nói với những người cùng đi biển với mình : “Hãy đem tôi ném xuống biển !” (Giôna 1,12). Trọn ý nghĩa phép rửa của Đức Giêsu, việc Người mang lấy “sự công chính trọn vẹn”, chỉ được biểu lộ nơi thập giá : phép rửa là việc đón nhận cái chết cho tội lỗi nhân loại và lời nói khi lãnh nhận phép rửa – “Đây là Con Ta rất yêu dấu” – là lời đưa dẫn vào sự phục sinh. Như thế, trong lời nói của Đức Giêsu, phép rửa là dấu chỉ cho cái chết của Người (Mc 10,38 ; Lc 12,50).

    Từ sự kiện này, chúng ta mới có thể hiểu được bí tích Thánh Tẩy của Kitô giáo. Việc tiền dự vào cái chết thập giá, điều được diễn ra trong phép rửa của Đức Giêsu, và việc tiền dự vào cuộc phục sinh mà lời từ trời cao loan báo, đã trở thành hiện thực. Như thế, phép rửa của cuộc sống và cái chết của Đức Giêsu bổ túc cho phép rửa bằng nước của Gioan. Lời mời gọi tiến đến phép rửa từ đây mang ý nghĩa – ngay lúc Đức Giêsu bước xuống lãnh nhận phép rửa – sự đồng hóa của Người với chúng ta, chúng ta được đón nhận sự đồng hóa của Người với chúng ta. Điểm tiền dự vào cái chết của Người đối với chúng ta là điểm tiền dự của chúng ta vào sự phục sinh với Người : thánh Phaolô đã triền khai thần học về bí tích Thánh Tẩy trong chiều kích nội tại (Rm 6), nhưng không nói rõ ràng về phép rửa của Đức Giêsu nơi sông Giođan.

    Giáo Hội Đông phương triển khai và đào sâu việc hiểu biết về phép rửa của Đức Giêsu trong phụng vụ và thần học về thánh tượng (Ikonen-Theologie). Giáo Hội này thấy một liên hệ sâu xa giữa nội dung lễ Hiển Linh (việc công bố tính chất Con Thiên Chúa qua tiếng nói từ trời ; lễ Hiển Linh là ngày lễ ban bí tích Thánh Tẩy của Giáo Hội Đông phương) và Phục sinh. Trong lời nói của Đức Giêsu với Gioan: “Chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15) như báo trước lời trong vườn Giêtsêmani : “ Lạy Cha…xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39) : các bài cầu nguyện phụng vụ ngày 3 tháng Giêng đáp ứng lại những bài cầu nguyện của thứ tư Tuần Thánh, bài cầu nguyện ngày 4 tháng Giêng đáp ứng bài cầu nguyện ngày thứ Năm Tuần Thánh, và bài cầu nguyện ngày 5 tháng Giêng đáp ứng bài cầu nguyện ngày thứ Sáu và thứ bảy Tuần Thánh.

    Thần học về thánh tượng lấy lại những thích ứng này. Ảnh thánh về phép rửa của Đức Giêsu cho thấy nước như nấm mồ đang chảy, đó là hình ảnh của ngục tối âm u, theo nét vẽ nói lên Hades, thế giới bên dưới, hỏa ngục. Việc Đức Giêsu bước xuống nầm mồ cuồn cuộn này, đi vào inferno (hỏa ngục) đang bao quanh Người, như tiên báo cho việc Người xuống ngục tổ tông. Thánh Cyrillô thành Giêrusalem nói : “Bước xuống nước, Người liên kết với những kẻ mạnh” (so Lc 11,22). Thánh Gioan Kim Khẩu viết : “Lặn xuống và trồi lên là hình ảnh cho việc bước xuống hỏa ngục và phục sinh”. Tiếp ca của phụng vụ Byzantin còn thêm vào một nét biểu trưng : “Sông Giođan lộn ngược trở lại vì áo choàng của ngôn sứ Êlisa, nước phân đôi và vạch một lối đi ráo chân như hình ảnh thật sự của Thánh Tẩy, nhờ đó chúng ta đi vào con đường của cõi sống” (Paul Evdokimov, Nghệ thuật Ikon, Paris 1972, tr. 246).

    Phép rửa của Đức Giêsu phải được hiểu như một cái nhìn ôn tập lại toàn bộ lịch sử, nhìn lại quá khứ và hướng về những gì tương lai : bước vào tội lỗi của kẻ khác là bước xuống Inferno (hỏa ngục) – không phải như thi sĩ Dante để nhìn ngắm – nhưng là cùng đau khổ, cùng tận khổ và nhờ đó biến đổi, các cửa hỏa ngục bị lật tung và sụp đổ. Đó là việc bước vào nhà của sự xấu, chiến đấu với kẻ mạnh là kẻ bắt giữ con người dưới quyền mình (và trong thực tế, chúng ta bị những quyền lực không tên bao vây và sử dụng). Người mạnh này và với sức mạnh của lịch sử thế giới là người bất khả chiến bại, nay bị đè bẹp và bị một Kẻ mạnh hơn trói buộc lại, một Người giống Thiên Chúa đã có thể đón nhận tất cả tội lỗi trần gian và chịu đau khổ – mà không mất gì cả khi thực hiện sự đồng hóa với những kẻ sa đọa. Cuộc chiến đấu này là “mặt trái” của hữu thể, tạo được điều mới cho hữu thể, chuẩn bị một trời mới đất mới. Bí tích – Bí tích Thánh Tẩy – từ đó được hiểu như việc chia sẻ vào cuộc chiến đấu để thay đổi vũ trụ của Đức Giêsu, thay đổi cuộc sống, được thực hiện trong việc bước xuống và bước lên của Người.

    Với cách giải thích và áp dụng sự kiện phép rửa của Đức Giêsu như trên, chúng ta có đi quá xa Thánh Kinh hay không ? Với vấn đề này, chúng ta cần nghe lại câu nói của Gioan Tẩy Giả được ghi trong Phúc Âm thứ tư, khi ông nhìn thấy Đức Giêsu : “Đây là chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). Câu này được xướng lên trước khi rước lễ trong phụng vụ Công giáo ; thế nhưng cũng thật khó hiểu. “Chiên Thiên Chúa” có nghĩa gì ? Tại sao lại gọi Đức Giêsu là “Chiên” ? và tại sao con chiên này lại xóa tội trần gian, xóa tội không có bản chất, không có thực tại ? 

    Joachim Jeremias giúp chúng ta hiểu được lời này cách đúng đắn và – về mặt lịch sử – có thể nhìn đây đúng là lời của vị Tẩy Giả. Trước tiên phải nhận ra hai câu Cựu Ước được sử dụng trong câu này. Bài ca người tôi tớ Thiên Chúa nơi Is 53,7 đã so sánh người tôi tớ đau thương này với con chiên bị người ta đem đi giết : “như con chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng”. Quan trọng hơn nữa, đó là Đức Giêsu bị đóng đinh vào ngày lễ Vượt qua và bấy giờ Người bị xem như con chiên Vượt qua, nơi Người đã nên trọn tất cả ý nghĩa chiên Vượt qua của cuộc xuất hành ra khỏi Ai-cập : sự giải thoát khỏi quyền lực chết chóc của Ai-cập và được tự do để đi vào cuộc xuất hành, để tiến về tự do của lời hứa. Từ lễ Vượt qua, biểu tượng con chiên trở thành nền tảng để hiểu Đức Kitô : chúng ta gặp điều này nơi thánh Phaolô (1 Cr 5,7), thánh Gioan (19,36) ; thư thứ nhất của thánh Phêrô (1,19) và trong sách Khải huyền (5,6).

    Jeremias giúp chúng ta chú ý đến từ Hípri Talia có nghĩa “chiên” và cũng có nghĩa “bé trai, tôi tớ”. Như thế lời của vị Tẩy Giả trước tiên nhắm vào người tôi tớ Thiên Chúa, đã gánh tội trần gian, đã đền thay cho nhân loại ; nhưng đồng thời câu này cũng giúp chúng ta nhận ra con chiên Vượt qua đích thực, xóa tội lỗi trần gian. “Yên lặng như Con chiên hiến tế, Đấng cứu độ đang hấp hối trên thập giá đã thay chúng ta đi vào cõi chết ; qua việc đền tội của cái chết vô tội, Người đã xóa đi lỗi lầm của toàn thể nhân loại” (Jeremias, từ amos, trong TWzNT, Band 1, tr. 343). Nếu trong thương đau do bị Ai-cập áp bức, máu con chiên Vượt qua trở thành quan trọng cho việc giải thoát Israel, thì Người, Người Con đã trở thành tôi tớ – mục tử, đã trở thành con chiên, Người cũng hiện diện thực quan trọng không phải chỉ cho Israel, nhưng cho cuộc giải phóng cả trần gian – cho cả nhân loại.

    Như thế đề tài lớn lao về tính phổ quát của sứ vụ Đức Giêsu được công bố. Israel không hiện hữu cho chính mình, nhưng việc tuyển chọn của họ là con đường, qua đó Thiên Chúa muốn đến với mọi người : đề tài tính phổ quát trở thành trung tâm đặc thù của sứ vụ Đức Giêsu rất thường được trình bày ; lời nói về con chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian,  xuất hiện trong Phúc Âm thứ tư ngay khởi đầu con đường của Đức Giêsu.

    Nếu như chúng ta có thể nói, lời nói về chiên Thiên Chúa giải thích đặc tính thần học thập tự của phép rửa Đức Giêsu, về việc Người bước xuống thật sâu vào cái chết. Qua nhiều cách khác nhau, bốn Phúc Âm tường trình rằng, khi Đức Giêsu bước ra khỏi nước, trời “xé” ra (Mc), mở ra (Mt và Lc) ; Thánh Thần “như chim câu” ngự xuống trên Người và theo Máccô và Luca, lúc ấy vang lên một tiếng từ trời nói với Đức Giêsu “Con là…”theo Thánh Matthêu nói về Người : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (3,17). Hình ảnh chim câu nhắc đến việc Thánh Thần bay lượn trên mặt nước trong tường trình sáng tạo (St 1,2) ; Người xuất hiện “như” (như chim câu) , đó là cách so sánh về điều trên căn bản không thể diễn tả được (Gnilka, tr. 78). Chúng ta được gặp lại tiếng từ trời này nơi Đức Giêsu hiển dung, nhưng còn có mệnh lệnh đi kèm theo : “Các ngươi hãy lắng nghe lời Người.” Chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa lời này sâu hơn.

    Trong đoạn này tôi muốn nhấn mạnh rất ngắn ba phương diện. Trước tiên hình ảnh về trời được xé ra : trời mở ra trên Đức Giêsu. Sự hiệp thông ý muốn của Người với Cha, “sự công chính trọn vẹn” mà Người chu tất, làm cho trời mở ra, mà bản chất của trời là nơi ý muốn của Thiên Chúa được thực hiện tròn đầy. Qua đó, lời công bố đến từ Thiên Chúa, đến từ Cha, về sứ vụ của Đức Giêsu, không muốn nhấn mạnh đến một hành động, nhưng đến sự hiện hữu của Người : Người là  Người Con yêu dấu, đẹp lòng Thiên Chúa. Cuối cùng ở đây tôi muốn hướng đến sự kiện, cùng với Chúa Con, chúng ta gặp Chúa Cha và Chúa Thánh Thần : mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi xuất hiện rõ ràng, có thể mạc khải cho chúng ta nền tảng sâu thẳm con đường của Đức Giêsu. Như thế sẽ có một vòng liên lạc khởi từ con đường của Đức Giêsu cho đến lời của Đấng Phục sinh sai các môn đệ đi vào trần gian : “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần …” (Mt 28,19), Bí tích Thánh tẩy, mà các môn đệ trao ban kể từ giờ phút này, chính là việc bước vào phép rửa của Đức Giêsu – đi vào thực tế mà Người đã bước trước. Nhờ đó chúng ta trở thành Kitô hữu.

    Trong một phong trào phổ biến của thần học tự do, phép rửa của Đức Giêsu được trình bày như sự kiện ơn gọi : nơi đây, chính Người, một con người cho đến bây giờ vẫn sống một đời thật bình thường tại vùng Galilê, có được một cảm nghiệm đảo lộn tất cả ; nơi đây Người có được một ý thức về liên hệ với Thiên Chúa cách đặc biệt và về sứ vụ tôn giáo của Người, mà đề tài chờ đợi hy vọng rất thịnh hành trong Israel và được Gioan làm sống lại, cũng như từ việc chuyển đổi cá nhân của Người được trao ban qua tiến trình phép rửa. Tất cả những điều này không có trong các bản văn. Cho dù cách trình bày này rất trí thức, nhưng chúng ta phải thấy đó chỉ là thứ tiểu thuyết về Đức Giêsu được xem như chú giải bản văn. Cách này không giúp chúng ta đi sâu vào nội tâm của Đức Giêsu – (Romano Guardini nói). Đức Giêsu đứng trên tất cả mọi thứ phân tâm học. Nhưng chúng cũng giúp chúng ta nhận ra, Đức Giêsu nằm trong liên hệ với ông Môsê và các ngôn sứ ; chúng giúp chúng ta nhận ra sự thống nhất nội tại con đường của Người từ giây phút đầu tiên cuộc đời cho đến thập tự và phục sinh. Đức Giêsu không xuất hiện như  một người kỳ tài với những trăn trở, thất bại và thành công, để rồi trở thành một cá nhân của một thời quá khứ không liên hệ gì đến chúng ta. Trước mắt chúng ta, Người là “Người Con yêu dấu”, là một Đấng rất khác với chúng ta, nhưng đồng thời có thể trở thành giống chúng ta, một người hiện diện sâu thẳm trong chúng ta hơn chúng ta với chính bản thân mình (x. Thánh Augustinô, Tự thú III, 6, 11)

ngay-the-gioi-nguoi-ngheo-lan-i-tai-vatican
Ngày Thế giới người nghèo lần I tại Vatican

Theo tin tức từ Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin mừng, tổ chức chịu trách nhiệm tổ chức Ngày Thế giới người nghèo lần I, sẽ có hơn 4000 người nghèo và chung chung là những người không phải là người giàu, sẽ tham dự Thánh lễ vào Chúa nhật ngày 19/11 tới đây, nhân Ngày Thế giới người nghèo lần I.

hoi-dong-giam-muc-viet-nam-thu-keu-goi-cau-nguyen-va-cong-tac-cuu-tro-nan-nhan-lu-lut
Hội đồng Giám mục Việt Nam: Thư kêu gọi cầu nguyện và cộng tác cứu trợ nạn nhân lũ lụt

Những ngày vừa qua, bão số 12 (Bão Damrey) với sức tàn phá khủng khiếp đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của tại các tỉnh miền Trung. Liền ngay sau bão, những trận mưa lớn gây ngập lụt trên diện rộng, trải dài nhiều tỉnh thành như: Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Định, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Lâm Đồng. Tính đến trưa ngày 9-11-2017, đã có 106 người chết, 25 người mất tích. Có thể đây vẫn chưa là con số thống kê cuối cùng.

y-cau-nguyen-cua-duc-thanh-cha-thang-muoi-mot-2017-lam-chung-cho-tin-mung-tai-chau-a
Ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha - Tháng Mười Một 2017: Làm chứng cho Tin Mừng tại Châu Á

Vatican. Trong tháng 11 năm 2017 này, Đức Thánh Cha đặc biệt mời gọi mọi người cầu nguyện cho các Kitô hữu tại Châu Á, để các Kitô hữu nơi đây có thể sống chứng nhân cho Tin Mừng giữa một xã hội rất đa dạng về truyền thống, văn hóa và tôn giáo.

su-diep-duc-thanh-cha-gui-cac-tu-hoi-doi
Sứ điệp Đức Thánh Cha gửi các tu hội đời

ĐTC kêu gọi các thành viên các tu hội đời hãy mang vào trần thế, vào những hoàn cảnh mình sinh sống, lời đã lắng nghe từ Thiên Chúa. Ngài đưa ra lời mọi gọi trên đây trong sứ điệp gửi các tham dự Hội nghị các tu hội đời Italia, nhóm tại Học Viện Augustinianum ở Roma trong hai ngày 28 và 29-10-2017 nhân dịp kỷ niệm 70 năm Tông hiến ”Provida Mater Ecclesiae” (Mẹ quan phòng của Giáo Hội), do ĐGH Piô 12 ban hành về các tu hội đời.

duc-thanh-cha-an-dinh-thang-truyen-giao-dac-biet
Đức Thánh Cha ấn định Tháng Truyền Giáo đặc biệt

ĐTC ấn định tháng đặc biệt về truyền giáo vào tháng 10 năm 2019.  Ngài đưa ra quyết định trên đây trong thư gửi ĐHY Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ Truyền giáo, và được công bố hôm chúa nhật 22-10-2017, trong đó ngài nhấn mạnh rằng ”Tháng đặc biệt về truyền giáo nhắm thức tỉnh mạnh mẽ hơn nơi các tín hữu ý thức truyền giáo cho dân ngoại và phục hồi với một đà tiến mới sự biến đổi cuộc sống và việc mục vụ theo tinh thần truyền giáo”.  

kinh-lay-cha-moi-se-co-hieu-luc-vao-ngay-3-thang-12-2017
Kinh Lạy Cha mới sẽ có hiệu lực vào ngày 3 tháng 12-2017

Ngày 31 tháng 3 vừa qua, Hội đồng Giám mục Pháp đã loan báo, ngày chúa nhật đầu tiên Mùa Vọng 3 tháng 12, bản Kinh Lạy Cha mới sẽ có hiệu lực, thay vì đọc như mọi khi: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” thì giáo dân sẽ đọc: “Xin đừng để chúng con vào trong cám dỗ” (tạm dịch).Vatican cũng đã chứng thực sự thay đổi này vào mùa hè năm 2013. Nhưng việc áp dụng đã hoãn lại nhiều lần, do các quan điểm khác nhau giữa các hội đồng giám mục vùng nói tiếng Pháp và Bộ Phụng tự ở Rôma.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.