kinhthanh

TRANG CHỦ li-category HỌC KINH THÁNH li-category Học và Sống Năm Kinh Thánh li-category Học hỏi Thánh Kinh 100 tuần – Tuần 104 và 105

Tuần 104 THƯ 1 & 2 TIMÔTHÊ
Thư gửi Titô

 BẢO VỆ ĐỨC TIN (1Tm 1,3-7)

“Khi đi Macêđônia, tôi đã khuyên anh ở lại Ephêsô để anh truyền cho một số người đừng dạy một giáo lý khác” (1,3). Câu này cho thấy Timôthê được trao nhiệm vụ “giám quản” ở Ephêsô. Đối với thánh Phaolô, Ephêsô là một giáo hội có tầm quan trọng đặc biệt. Ngài đã làm việc hai năm ở đó (Cv 19,1-10) với nhiều thành công và cũng không ít đau khổ (Cv 19,11-20). Cũng ở Ephêsô, Apollô đã theo Đạo (Cv 18,24), và thánh Phaolô đã có bài diễn văn nổi tiếng với các trưởng lão tại đó (Cv 20,16-35). Hiển nhiên đây là một giáo hội có tầm ảnh hưởng lớn, nên chúng ta có cả một lá thư quan trọng của Phaolô gửi Ephêsô, và còn một thư ngắn khác trong sách Khải Huyền (2,1-7).

Nhiệm vụ của Timôthê là phải canh giữ đời sống đức tin của Dân Chúa, cụ thể là đừng để những kẻ xưng mình là thầy dạy tiếp tục rao giảng những lý thuyết sai lạc, “những chuyện hoang đường và gia phả dài dòng” (1,4). Điều chính yếu là họ không loan báo sự toàn vẹn của đức tin và đời sống đạo đức. Lời rao giảng chân chính phải “đưa tới đức mến phát xuất từ tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình” (1,5). Đây cũng là điều mà ở bất cứ thời đại nào, người tín hữu phải dựa vào để phân định đâu là giáo lý tinh tuyền và đâu là thứ “giáo lý” giả dối. Nếu không, chúng ta có nguy cơ trở thành những kẻ “nói rỗng tuếch”, thích làm thầy dạy người khác nhưng chính bản thân “lại không hiểu cả điều mình nói lẫn điều mình xác quyết” (1,6-7).

SỰ GIAN KHỔ CỦA SỨ VỤ TÔNG ĐỒ (2Tm 2,1-13)

“Hỡi anh, người con của tôi, hãy nên mạnh mẽ trong ân sủng của Đức Kitô Giêsu” (2,1). Lời hiệu triệu này làm nên chủ đề chính của đoạn văn. Sứ vụ tông đồ là sứ vụ khó khăn, nhưng Timôthê đón nhận sức mạnh từ Thần khí Thiên Chúa để có thể chu toàn sứ vụ. Nhiệm vụ trước hết của sứ vụ là “những gì anh đã nghe tôi nói trước mặt các nhân chứng, thì hãy “trao lại” cho những người tín cẩn, những người sẽ có khả năng dạy cho người khác” (2,2). Động từ “trao lại” là một từ chuyên môn, vừa nhấn mạnh điều được trao lại là điều có tầm quan trọng đặc biệt, vừa đòi hỏi phải chuyển giao cách chính xác và trung thực. Thánh Phaolô đã dùng từ “trao lại” này khi nói về Thánh Thể và về sự phục sinh (1Cor 11,23; 15,3).

Sứ vụ tông đồ đòi hỏi nhiều hi sinh, nên thánh Phaolô kêu gọi Timôthê phải “đồng lao cộng khổ như một người lính giỏi của Đức Kitô Giêsu” (2,3), toàn tâm toàn ý với sứ vụ (2,4), chịu khó luyện tập (2,5) và cần mẫn làm việc như người nông dân trên đồng ruộng (2,6).

Cao điểm của đoạn văn là thánh thi (2,11-13) mời gọi chúng ta nên đồng hình đồng dạng với mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu, để được chia sẻ vinh quang với Người: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người” (2,11-12). Thánh Phaolô không chỉ kêu gọi nhưng chính ngài đã sống xác tín đó: “Vì Tin Mừng, tôi phải chịu khổ, tôi còn phải mang xiềng xích như một tên gian phi. Nhưng lời Thiên Chúa đâu bị xiềng xích” (2,9).

Trong thánh thi này, có một câu khó hiểu (câu 12b-13). Câu 12b viết: “Nếu ta chối bỏ Người, Người sẽ chối bỏ ta”. Đây cũng là lời cảnh cáo quen thuộc trong sách Tin Mừng (Mt 10, 32-33). Nhưng câu 13 lại viết rằng “Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình”. Phải hiểu thế nào về điều có vẻ mâu thuẫn này? Thánh Phaolô thường xuyên nhấn mạnh sự trung tín của Chúa (1Cor 1,9; 10,13; 1Thes 5,24). Tuy nhiên sự trung tín ở đây là Thiên Chúa trung tín với lời hứa cứu độ con người qua đức tin, chứ không có nghĩa là Chúa không xét xử tội lỗi của con người. Nếu con người cố tình chối bỏ tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, thì Ngài cũng chối bỏ họ, hoặc nói cách khác, tình yêu cứu độ của Thiên Chúa trở thành vô ích cho họ.
 

Tuần 105: Thư của Thánh Giacôbê

NHỮNG CHỦ ĐỀ LỚN TRONG THƯ GIACÔBÊ

Thanh GcXem ra thư Giacôbê ít nhắc đến Chúa Giêsu (chỉ có ở 1,1 và 2,1) nhưng thực ra lá thư nói rất nhiều đến nội dung niềm tin Kitô giáo vào Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu (5,11), Đấng ban Lề Luật và xét xử (4,12), Thiên Chúa duy nhất (2,19), Đấng Tạo hoá (1,18), Đấng không hề có sự thay đổi (1,18).

Mối quan tâm lớn nhất của thánh Giacôbê là làm sao giúp các tín hữu, một khi đã tin vào Chúa, thì phải kiên vững trong đức tin và sống đời sống đạo đức Kitô giáo cho tốt. Đức tin phải thấm nhuần đời sống đạo chứ không thể chỉ dừng lại ở những nghi lễ hoặc lời tuyên xưng ngoài môi miệng. Ngài cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa niềm tin vào Chúa và đời sống bác ái, vì cả hai đều là đặc điểm thiết yếu của niềm tin vào Thiên Chúa của giao ước. Đời sống đạo đức phải mang tính toàn vẹn, cho nên người ta không thể chỉ chọn một vài luật nào đó để tuân giữ, còn coi thường những lề luật khác (2,10-11). Và để sống đạo đức, phải quan tâm đến cội rễ căn nguyên của những thói xấu mà tẩy trừ, nếu không, cả đời sống đức tin bị thiêu rụi.

Cảm thức về Giáo Hội cũng là điểm then chốt trong thư Giacôbê. Tôn giáo không phải là chuyện riêng tư giữa mỗi người với Thiên Chúa nhưng là mối tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và Dân của giao ước. Do đó, tình yêu tha nhân và việc tránh xét đoán là những điều được thánh Giacôbê thường xuyên nhắc nhớ.

HAI LOẠI ĐỨC TIN (2,18-26)

Đoạn văn này làm cho ta có cảm giác thánh Giacôbê đi ngược lại lập luận của thánh Phaolô về mối tương quan giữa đức tin và việc làm. Thánh Phaolô khẳng định rằng người ta được công chính hoá nhờ đức tin chứ không phải nhờ tuân giữ Lề Luật (x. Rm 5), còn thánh Giacôbê lại dạy: “Ai bảo rằng mình có đức tin mà lại không hành động theo đức tin thì có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng?… Đức tin không có hành động quả là đức tin chết” (2,14-17). Thật ra, hai vị bàn đến hai vấn đề khác nhau ở hai bình diện khác nhau. Thánh Phaolô chống lại những người Do thái cho rằng nguyên lý của ơn cứu độ là tuân giữ Lề luật. Khi loan báo Tin Mừng cho dân ngoại, ngài khám phá ra rằng Thiên Chúa không thiên vị dân tộc nào, nhưng mời gọi mọi dân đến với ơn cứu độ khi tin vào Thiên Chúa và vào Đức Giêsu Kitô. Như thế, thánh nhân thấy rằng không phải chỉ có một số ít người biết và giữ Lề luật mới được cứu độ, nhưng tất cả những ai tin vào lời hứa của Thiên Chúa đều được cứu độ. Còn thánh Giacôbê lại bàn đến một vấn đề khác. Ngài giả thiết là người ta đã được công chính hoá nhờ đức tin rồi, từ đó mới bàn đến hai loại đức tin: đức tin hành động và đức tin chết. Tôn giáo đích thực không chỉ là việc tuyên xưng ngoài môi miệng nhưng là niềm tin vào Thiên Chúa của giao ước và tình yêu đối với tha nhân, được thể hiện qua những hành động cụ thể.

Trong 2,19, thánh Giacôbê lặp lại công thức truyền thống của Do thái-Kitô giáo về niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất. Tuy nhiên ngài lý luận rằng: cả ma quỷ cũng biết như thế, nhưng chúng không sống theo niềm tin đó. Vì vậy, điều quan trọng không phải là tuyên xưng ngoài môi miệng nhưng là hành động. Tổ phụ Abraham được nhắc đến ở đây vì ông là chứng nhân sống động cho niềm tin đích thực vào Thiên Chúa. Qua hành động hiến tế Isaac, rõ ràng đức tin của Abraham là đức tin đã được thử thách và tinh luyện qua hành động cụ thể, biểu lộ sự vâng phục và lòng tín thác vào Thiên Chúa. Do đó, sự tương phản ở đây không phải là tương phản giữa đức tin và việc làm, nhưng là tương phản giữa đức tin kiên trì và hành động với thứ đức tin trên môi miệng và chóng qua. Mẫu gương của Rakháp (câu 25) lại nhằm mục đích khác, tức là nhấn mạnh rằng đức tin chân thật sẽ dẫn đến hành động yêu thương. Rakháp đã đón tiếp những người xa lạ, cho họ ăn uống và trú ngụ. Bà là gương mẫu cho những người biết yêu thương phục vụ kẻ mồ côi goá bụa và giúp đỡ những người thiếu thốn (câu 27-28). Như thế, Abraham và Rakháp là hai mẫu gương bổ túc cho nhau để cho thấy đức tin đích thực là đức tin kiên trung và vững bền qua thử thách, đức tin kèm theo việc làm chứ không chỉ là lời nói suông, đức tin vâng phục và yêu thương.

KIỂM SOÁT MIỆNG LƯỠI (3,1-12)

Thánh Giacôbê kêu gọi người tín hữu phải tuân giữ mọi lề luật, vì “ai tuân giữ tất cả Lề Luật mà chỉ sa ngã về một điểm thôi, thì cũng thành người có tội về mọi điểm” (2,10). Thế nhưng ngài cũng nhìn nhận thực tế là “tất cả chúng ta thường hay vấp ngã” (3,2), không vấp ngã điều này thì lại vấp ngã điều khác. Từ đó, ngài cho thấy người không vấp ngã trong lời nói là người “hoàn hảo, có khả năng kiềm chế toàn thân” (3,2), nghĩa là không những không phạm tội mà còn vươn đến sự phát triển toàn diện.

Kiềm chế miệng lưỡi là chủ đề được nhấn mạnh trong truyền thống Do Thái (x. Sirach 14,1). Thánh Giacôbê chịu ảnh hưởng của truyền thống này, không những trong chủ đề ngài nhấn mạnh mà còn trong cả những hình ảnh biểu tượng ngài sử dụng: tra hàm thiếc vào miệng ngựa (x. Tv 32,9), bánh lái điều khiển cả con tầu, một tia lửa nhỏ có thể làm bốc cháy cả cánh rừng (3,3-6). Tầm quan trọng của việc kiềm chế miệng lưỡi được nhấn mạnh đến độ thánh Giacôbê cho rằng con người có thể chế ngự mọi thứ mọi loài nhưng lại không chế ngự được cái lưỡi, “nó là sự dữ không bao giờ ở yên vì nó chứa đầy nọc độc giết người” (3,8).

Để làm chủ cái lưỡi, phải vun trồng con người nội tâm vì mọi sự bắt nguồn từ tâm hồn con người: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao?” (4,1). Vun trồng con người nội tâm bằng cách thường xuyên thanh tẩy tâm hồn, để tâm hồn thuộc trọn về Chúa: “Hỡi kẻ hai lòng, hãy tẩy luyện tâm can” (4,8); “Hãy chống lại ma quỷ, chúng sẽ chạy xa anh em; hãy đến gần Thiên Chúa, Người sẽ đến gần anh em” (4,7-8). Đồng thời hãy tập đừng nói xấu nhau: “Ai nói xấu hoặc xét đoán anh em mình là nói xấu và xét đoán Lề Luật” (4,11). Thay vào đó phải là lời chúc tụng: “Chẳng lẽ một mạch nước lại có thể phun ra từ một nguồn cả nước ngọt lẫn nước chua sao?… Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa. Thưa anh em, như vậy thì không được” (4, 10-11).

 

 

 

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Nguồn: WGPSG

 

suy-niem-thanh-vinh-31-va-50-lm-phero-pham-ngoc-le
Suy Niệm Thánh Vịnh 31 và 50 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này được gán cho Đavít làm tác giả. Đây là lời cảm tạ của một tội nhân. Chú ý đến sự bạo dạn tuyệt vời của Thánh vịnh này. Thay vì ẩn giấu mình, một cách cá nhân, trong bí mật của lương tâm, con người có tội này lại xưng thú công khai rằng mình là kẻ có tội, và dựa vào kinh nghiệm riêng của người được giao hòa để rút ra những bài học khôn ngoan mưu ích cho mọi người: ở cuối thánh vịnh, ông mời gọi mọi người hãy trẩy hội vui mừng, vì ông được hưởng sự tha thứ.

giao-dan-hoc-hoi-kinh-thanh-viec-can-lam-ngay
GIÁO DÂN HỌC HỎI KINH THÁNH: VIỆC CẦN LÀM NGAY !

Khi mừng lễ Ngôi Lời của Thiên Chúa mang lấy thân xác yếu đuối của con người, chúng ta cũng mừng Lời của Thiên Chúa được nói với chúng ta bằng ngôn ngữ loài người để chúng ta có thể hiểu được. Dù ngôn ngữ loài người có nhiều giới hạn và khiếm khuyết, nhưng bộ Kinh Thánh chúng ta đọc và học hỏi vẫn có thể đưa chúng ta đi vào cuộc gặp gỡ và trò chuyện thân tình với chính Thiên Chúa, nhờ đó có sức sống ở đời này và ơn cứu độ đời sau.

hanh-trinh-hoc-hoi-tin-mung-mac-co
HÀNH TRÌNH HỌC HỎI TIN MỪNG MÁC-CÔ

Mặc dù được viết bằng Hy-ngữ thường dụng, sách Tin Mừng Mác-cô vẫn là một sứ điệp nói lên quan hệ liên tục giữa chúng ta với Thiên Chúa, mối quan hệ đã được trình bày do Đức Giê-su Ki-tô.  Mác-cô viết khoảng năm 70 sau công nguyên, thời điểm xáo trộn lớn về chính trị, như bạn sẽ thấy trong Hành trình 12.  Vùng Thánh địa đã bị Rô-ma đô hộ hơn 130 năm.

suy-niem-thanh-vinh-39-71-va-88-lm-phero-pham-ngoc-le
Suy Niệm Thánh Vịnh 39, 71 và 88 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Nhưng đối với Israel, kỳ công tuyệt vời nhất, còn hơn cả việc Sáng Tạo, là chính Giao Ước: ‘Hạnh phúc thay dân nào biết ca ngợi tung hô; nhờ Thánh Nhan soi tỏ, họ tiến lên; nhờ được nghe danh Ngài, họ suốt ngày hớn hở… Sức hùng cường hiển hách của dân chính là Ngài, hồng ân Ngài làm nổi bật uy thế chúng con’. Vâng, Israel ý thức mình được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn. Hai từ ngữ đi đôi được lập đi lập lại bảy lần: Tình Thương và Tín Thành.

hanh-trinh-hoc-hoi-tin-mung-mat-theu
HÀNH TRÌNH HỌC HỎI TIN MỪNG MÁT-THÊU

Việc học hỏi này có thể được thực hiện do từng cá nhân hoặc với một nhóm học hỏi và chia sẻ Lời Chúa. Phương pháp sống động và gợi óc tò mò học hỏi sẽ là một trong những yếu tố giúp chúng ta hăng say và kiên nhẫn đi từ hành trình này tới hành trình khác để tìm gặp và sống những gì các thánh sử trình bày về Chúa Giê-su và Tin Mừng cứu độ.

suy-niem-thanh-vinh-8-va-14-lm-phero-pham-ngoc-le
Suy Niệm Thánh Vịnh 8 và 14 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Bài tụng ca vương quyền của Giavê có lẽ được hát vào một đêm lễ hội, dưới bầu trời trong veo không gợn mây, đầy ánh sao lấp lánh của miền Đông phương. Thánh Vịnh này chỉ làm công việc là dệt thành bài ca, thành kinh nguyện những điều mà  giáo lý sơ đẳng của Do thái giáo đã dạy. Sáng Tạo: Thiên Chúa sáng tạo vạn vật, trao quyền cho con người, đỉnh cao của mọi vật

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.