kinhthanh

TRANG CHỦ li-category CÁC VĂN KIỆN li-category Huấn thị “Kinh Thánh và Kitô học” - Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng 1984

 
Giới thiệu:

    Văn kiện này được xuất bản vào năm 1984 bên Pháp trong hai ngôn ngữ. Bản văn La-tinh được gọi là “bản văn chính thức”, còn bản Pháp văn thì được gọi là “bản văn làm việc”. Có rất nhiều khác biệt giữa hai bản văn. Không có bản dịch Anh văn chính thức. Năm 1985, cha Joseph A. Fitzmyer, S.J., đã xuất bản bản dịch văn kiện của riêng ngài, trong đó có nhiều ghi chú để những khác biệt về dịch thuật giữa bản La-tinh và bản Pháp văn. Bản dịch Anh văn có ghi chú này được đưa vào dùng ở đây với phép mà cha Fitzmyer khả ái ban cho. Xin cũng ghi nhận là trong bản văn gốc, có những chỗ in nghiêng.

 

                           Lời mở đầu của Thư Ký Ủy Ban

    Công tác của Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng không nhằm vào việc chú giải, nhưng là nghiên cứu Kinh Thánh và đưa ra những đề nghị thích hợp với Huấn quyền Hội Thánh. Khi nhận được một câu hỏi giáo lý Kinh Thánh về Đức Kitô, về Đấng Mêsia, Ủy Ban không có ý soạn thảo một tài liệu trực tiếp dành cho các nhà Kinh Thánh hoặc các chuyên viên chú giải, thậm chí cũng không đưa ra một tài liệu cho các giáo lý viên, vì họ có phần trách nhiệm riêng.

    Để có thể giúp hiểu biết  và nhận thức về Kinh Thánh cũng như giúp các mục tử trong sứ vụ của họ, công tác của Ủy Ban phải là :

1. Học hỏi kỹ lưỡng các nghiên cứu hiện nay về Kitô học thuộc Kinh Thánh để làm nổi bật những định hướng và những phương pháp luận khác nhau, và không bỏ qua các nguy cơ người ta có thể rơi vào khi sử dụng chuyên một vài phương pháp nhằm hiểu bao quát chứng từ của Kinh Thánh và món quà Thiên Chúa ban nơi Đức Kitô.

2. Trình bày giản lược những gì Kinh Thánh khẳng định :

- trong Giao Ước đầu tiên về các lời hứa của Thiên Chúa, những ân huệ Ngài đã ban, và niềm hy vọng của dân Thiên Chúa về một Đấng Mêsia tương lai;

- trong Tân Ước về sự hiểu biết trong đức tin các cộng đoàn Kitô hữu cuối cùng đã đạt được về các lời nói và các hành động của Đức Giêsu Nadarét, được hiểu dưới ánh sáng của những bản văn mà các cộng đoàn Do-thái đã đi tới chỗ nhận biết là có uy tín thần linh.

    Ủy Ban đã cố ý dành việc nghiên cứu quá trình soạn thảo tiệm tiến các bản văn Kinh Thánh cho một công cuộc tra cứu mang tính chú giải, văn chương và lịch sử đúng nghĩa, để chỉ tập trung vào chứng từ đã đến với mình từ thư quy của Kinh Thánh. Do đó, nhan đề của văn kiện này là: Kinh Thánh và Kitô học.

    Nhưng dường như hữu ích nếu giới thiệu cho các mục tử mà có thêm phần cứu xét những đề tài mà văn kiện chính thức chỉ phác thảo ra. Một số thành viên của Ủy Ban đã được yêu cầu soạn những bản văn phụ trội, và xuất bản dựa trên uy tín của chính các vị ấy, nhưng Ủy Ban có thể sử dụng cho công việc chung. Trong các bản văn này, độc giả sẽ không tìm thấy những nghiên cứu mang tính chú giải đúng nghĩa, được trang bị những cước chú chuyên môn, nhưng đúng hơn, những tổng hợp thần học hoặc các phương pháp luận Kinh Thánh có chất chứa những đề tài còn được tranh luận trong Kitô học.

Henri Cazelles, p.s.s.,

Thư ký của Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng


Kinh THÁNH và KiTÔ học

    Ngày nay, nhiều người, đặc biệt bên Tây phương, tự cho mình là những kẻ vô tri hoặc vô tín. Có phải vì thế họ không hề quan tâm đến Đức Giêsu Kitô hoặc vai trò của Người trong thế giới không? Các nghiên cứu và các tác phẩm đã được xuất bản, cho thấy không phải như thế, dù cách thức cứu xét vấn đề này đã thay đổi. Tuy nhiên, cũng có những Kitô hữu bị hoang mang trước nhiều cách tiếp cận và giải quyết vấn đề này như đã được đề nghị. Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng chỉ muốn giúp đỡ các mục tử và các tín hữu về vấn đề này bằng những cách thức như sau: (1) bằng cách trình bày khái quát các nghiên cứu này để chỉ ra tầm quan trọng của chúng và những nguy cơ chúng gặp phải; và (2) nhắc nhớ khái quát chứng từ của Kinh Thánh về sự mong chờ ơn cứu độ và Đấng Mêsia, để có thể cứu xét Tin Mừng cách đúng đắn trong bối cảnh trước, và rồi cho thấy phải hiểu sự mong chờ và các lời hứa này được hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô như thế nào. 


PHẦN I
 

Một cÁi nhÌn tổng quÁt
vỀ cÁc phưƠng phÁp luận đưƠc sỬ dụng hÔm nay trong KitÔ học

 
Chương I 

MỘT TỔNG QUAN NGẮN GỌN VỀ CÁC TIẾP CẬN

     Vấn đề không phải là trình bày ở đây một bài tường thuật đầy đủ về những nghiên cứu về Đức Giêsu Kitô. Đúng ra cần phải quy hướng sự chú ý về các tiếp cận khác nhau được sử dụng trong các nghiên cứu ấy. Các tiếp cận ấy được mô tả khái quát theo thể loại mà không hề có ý giữ một thứ tự theo lô-gích hay theo thời gian, và tên của một vài tác giả, những đại diện chính của các tiếp cận ấy, sẽ được nêu ra.

1.1.1. TIẾP CẬN “CỔ ĐIỂN” hay TIẾP CẬN thẦN học truyỀN thỐng

1.1.1.1. Tiếp cận này được sử dụng trong các khảo luận tín lý suy lý vốn trình bày một học thuyết được nghiên cứu theo hệ thống, bắt đầu với các định tín của các Công đồng và các tác phẩm của các Giáo Phụ – khảo luận  “De Verbo incarnato – Về Ngôi Lời nhập thể” (x. các Công đồng Nixê năm 325; Êphêxô năm 431; Khanxêđôn năm 451; Côngtăngtinốp II và III năm 553 và 681) và khảo luận “De redemptione – Về ơn cứu chuộc” (x. các Công Đồng Ôrăng năm 529; Trentô, các khóa 5 và 6, năm 1546 và 1547).

1.1.1.2. Các khảo luận này nay được phong phú hóa thêm nhờ nhiều yếu tố mới đã được đưa vào do sự tiến bộ của công iệc nghiên cứu hiện đại:

    (a) Thông thường các khảo luận này vận dụng phương pháp phê bình Kinh Thánh sao cho có thể phân biệt rõ hơn các dữ liệu của từng sách hoặc của từng nhóm sách. Kết quả là phần chú giải thần học của các sách này dựa trên một nền tảng vững chắc hơn (vd. J. Galot v.v.).

     (b) Dưới ảnh hưởng gián tiếp của một nền thần học tập trung vào Lịch sử cứu độ (Heilsgechichte, x. 1.1.6 dưới đây), con người Đức Giêsu được neo chắc chắn hơn vào  sự bố trí các phương tiện cứu độ mà các Giáo Phụ gọi là “oikonomia – nhiệm cục cứu độ”.

     (c) Do có những phương diện khác, từ đó các vấn đề thần học được cứu xét hôm nay, một số vấn đề đã từng được triển khai rõ ràng vào thời Trung Cổ nay mới được cứu xét lại, chẳng hạn “kiến thức” của Đức Kitô và sự phát triển nhân cách của Người (vd. J. Maritain, v.v.).

1.1.2. NHỮNG TIẾP CẬN SUY LÝ THUỘC LOẠI PHÊ BÌNH

1.1.2.1. Một vài nhà thần học suy lý nghĩ rằng cách đọc phê bình, là cách đã mang lại nhiều lợi ích trong lãnh vực nghiên cứu Kinh Thánh, không những phải được áp dụng vào các tác phẩm của các Giáo Phụ và của các nhà thần học thời Trung Cổ, mà thậm chí còn phải áp dụng vào những định tín của các Công đồng. Chính các định tín này cần phải được giải thích dưới ánh sáng của bối cảnh lịch sử và văn hóa từ đó chúng được công bố.

1.1.2.2. Từ việc nghiên cứu lịch sử các Công đồng, điểm nổi rõ là các định tín phải được coi như là những cố gắng nhắm vượt qua những tranh luận của các trường phái hoặc những khác biệt về quan điểm hoặc về các cách thức diễn tả đã từng gây chia rẽ giữa các nhà thần học, thậm chí ngay khi tất cả các vị đó đều mong muốn tái khẳng định đức tin nảy sinh từ Tân Ước. Tuy nhiên, các cố gắng đó không phải bao giờ cũng thắng vượt được các quan điểm gây xung đột. Khi cứu xét có phê phán bối cảnh văn hóa và ngôn ngữ của các công thức đã được đón nhận, chẳng hạn các công thức của Công đồng Khanxêđôn (năm 451), người ta có thể phân biệt rõ hơn đối tượng của các định tín với các công thức được sử dụng để diễn tả dối tượng ấy cách đúng đắn. Nhưng một khi bối cảnh văn hóa thay đổi, các công thức có thể dễ dàng mất đi sức mạnh và tính hiệu năng của chúng trong một bối cảnh ngôn ngữ khác, nơi mà cũng những từ ngữ như nhau không phải bao giờ cũng giữ được ý nghĩa như vậy.

1.1.2.3. Như thế, các công thức loại này phải được so sánh lại một lần nữa với các nguồn căn bản của mạc khải, đặc biệt là với Tân Ước. Do đó, một số công việc  nghiên cứu về “Đức Giêsu lịch sử” đã đưa một vài nhà thần học (vd. P. Schoonenberg) đến chỗ nói về “con người nhân bản” của Người. Nhưng nói về “nhân cách nhân bản” của Đức Giêsu theo nghĩa các nhà thần học Kinh viện thường dùng để nói về “nhân tính cá vị” và “nhân tính riêng biệt” của Người lại không phải là tốt hơn sao?

1.1.3. KITÔ HỌC VÀ CÔNG CUỘC TRA CỨU LỊCH SỬ

    Vẫn cón có những tiếp cận khác đang tiến hành với phương pháp luận của khoa lịch sử khoa học. Bởi vì phương pháp luận này đã chứng tỏ giá trị của nó trong việc nghiên cứu các bản văn cổ, đương nhiên nó cũng được áp dụng vào các bản văn Tân Ước.

1.1.3.1 Thực thế, từ đầu thế kỷ 19, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào việc xây dựng lại cuộc đời của Đức Giêsu về lịch sử – Người có vẻ là hạng người như thế nào dưới mắt những người mà Người sống với – và tập trung vào ý thức mà Người hẳn đã có về chính mình. Những tác giả duy lý (chẳng hạn Reimarus, Paulus, Strauss, Renan, v.v.) đã sẵn sàng không màng tới các tín điều Kitô học. Những nhà thần học Tin Lành gọi là “tự do” cũng không màng như thế, họ muốn thay thế một nền thần học “tín lý”, mà theo họ dường như loại bỏ mọi tra cứu tích cực, bằng một nền thần học “Kinh Thánh” được thiết lập có phê bình (x. A. Harnack, Das Wesen des Christentums). Tuy nhiên, cách nghiên cứu về “Đức Giêsu lịch sử” như thế lại đưa đến những kết quả gây xung đột đến nỗi “Cuộc đời Đức Giêsu – Nghiên cứu” (Leben-Jesu-Forschung) cuối cùng phải bị coi như là một công trình không thành công (A. Schweitzer, tái bản lần 2, 1913). Về phía Công Giáo, cho dù linh mục M.-J. Lagrange đã xác định vững vàng nguyên tắc “phương pháp lịch sử” khi nghiên cứu các Tin Mừng (La méthode historique, tái bản lần 3, 1907), thì người ta chỉ thực sự tránh được các khó khăn tương tự bằng cách giả định tính “lịch sử” toàn vẹn của mọi sự, thậm chí các chi tiết nhỏ nhất thấy được trong các bản văn Tin Mừng (chẳng hạn: Didon, Le Camus ; với sắc thái khác: Lebreton, chính Lagrange, Fernandez, Prat, Ricciotti, v.v.). Tiếp cận của R. Bultmann (xem 1.1.8 ở dưới) đã tìm ra điểm xuất phát nơi ngõ cụt mà dường như “Cuộc đời Đức Giêsu – nghiên cứu” đã đi vào.

1.1.3.2. Kể từ đó, “phương pháp lịch sử” đã được tăng cường nhiều đường nét mới và quan trọng. Chính các sử gia đã đặ vấn đề về quan niệm “duy nghiệm” về tính khách quan trong nghiên cứu lịch sử.

    (a) Tính khách quan này không phải là như tính khách quan trong các khoa học tự nhiên, bởi vì nó liên hệ đến các kinh nghiệm của con người (xã hội, tâm lý, văn hóa, v.v.), là những kinh nghiệm đã xảy ra một lần trong quá khứ và do đó không thể được dựng lại cách đầy đủ. Vì thế, nếu muốn khám phá “chân lý”, cách duy nhất có thể theo là dựa vào các dấu vết và các chứng từ liên hệ đến chúng (các di tích và các tài liệu). Tuy nhiên ta chỉ đạt được chân lý về chúng trong mức độ chính những kinh nghiệm ấy có thể nói là được hiểu “từ bên trong”.

     (b) Cố gắng làm việc này nhất thiết đưa đến một lượng nào đó tính chủ quan của con người khi tiến hành điều tra.  Sử gia cảm nhận là yếu tố này có mặt trong mỗi bản văn kể lại các biến cố hoặc miêu tả các nhân vật thuộc các biến cố ấy mà không gây phương hại đến giá trị của các chứng từ đã được bảo tồn.

     (c) Tính chủ quan của chính sử gia có xen vào từng bước của công việc, khi ông tìm kiếm “sự thật” trong lịch sử  (x. H.G. Gadamer). Bởi vì ông cứu xét các vấn đề đang tra cứu tùy theo các phương diện thu hút sự chú ý và mối quan tâm của ông nhất. Có một thứ “tiền nhận thức” (Vorverstašndnis) nào đó về các phương diện này mà ông phải dần dần điều chỉnh với chứng từ của các bản văn ông đang học hỏi. Cho dù ông tự quan sát và phê phán mình dọc theo cuộc tiếp xúc ấy, thì thật sự cũng hiếm có việc trình bày các kết luận của công việc nghiên cứu của ông mà không bị chính quan điểm của ông về ý nghĩa của nhân sinh gây ảnh hưởng lên (x. X. Léon-Dufour).

1.1.3.3. Việc nghiên cứu lịch sử về Đức Giêsu là ví dụ rõ ràng nhất về tình huống này. Việc nghiên cứu này không bao giờ trung lập. Thực vậy, con người Đức Giêsu đã gây ảnh hưởng trên mọi người, kể cả trên sử gia: do ý nghĩa cuộc đời và cái chết của Người, do tầm nhân bản của sứ điệp của Người, do cách giải thích mà nhiều tác phẩm khác nhau của Tân Ước đã làm chứng. Các điều kiện mà mọi công trình nghiên cứu đều phải dựa vào, giúp giải thích tại sao lại có nhiều kết quả của các sử gia cũng như của các nhà thần học rất khác nhau như vậy; vì không ai có thể nghiên cứu và trình bày hoàn toàn “khách quan” nhân tính của Đức Giêsu, tấn bi kịch cuộc đời Người mà thập giá là đỉnh cao, cũng như sứ điệp Người đã để lại cho nhân loại qua các lời nói, hành động và sự hiện hữu của mình. Nhưng không vì thế mà phủ nhận cách tìm hiểu lịch sử này, vì nó giúp chúng ta có thể tránh được hai nguy cơ: hoặc là Đức Giêsu bị xem như một anh hùng thần thoại đơn thuần, hoặc là việc nhìn nhận Người là Đấng Mêsia và Con Thiên Chúa khỏi bị giản lược vào một thứ duy tín phi lý nào đó.

1.1.4. KITÔ HỌC VÀ KHOA HỌC VỀ CÁC TÔN GIÁO

1.1.4.1. Một yếu tố khác đã xuất hiện làm trương rộng nền móng của việc tra cứu lịch sử, đó là “khoa học về các tôn giáo”. Khoa này nghiên cứu các tiếp xúc đang xảy ra giữa các tôn giáo. Phải chăng người ta lại không phải nhận lấy cách thức (tra cứu) này để hiểu được, chẳng hạn làm thế nào đã xảy ra bước chuyển từ tin mừng về Nước Thiên Chúa, như Đức Giêsu loan báo theo các bản văn Tin Mừng, sang tin mừng về Đức Giêsu, Đấng Mêsia và Con Thiên Chúa, như tìm thấy trong các bản văn trình bày theo nhiều cách niềm tin của Giáo Hội tiên khởi sao? 

1.1.4.2. Bắt đầu với thế kỷ 19, khoa so sánh các tôn giáo đã phát triển nhanh, và những tiếp cận cũ trong lãnh vực nghiên cứu này đã nhận được sự húc đẩy mới. Hai nuyên do đưa đến sự phát triển này là: trước tiên, việc tìm lại được nền văn chương Cận Đông cổ, nhờ việc giải mã các bản văn khắc bằng chữ Ai-cập và chữ dạng đinh (Champollion, Grotefend, v.v.); thứ đến, các cuộc tra cứu nhân chủng về các dân tộc được gọi là “bán khai”. Từ đó, rõ ràng là không thể giản lược hiện tượng tôn giáo các hiện tượng khác (x. R. Otto, Das Heilige, 1916) và cũng rõ ràng là hiện tượng nào được tạo ra bởi những yếu tố rất khác nhau, là các niềm tin cũng như các nghi thức.

1.1.4.3. Vào đầu thế kỷ 20, Trường phái Lịch sử các Tôn giáo (Religionsgeschichtliche Schule) đã tìm cách giải thích theo mẫu phát sinh và tiến hóa, một mặt nguồn gốc và sự hình thành của tôn giáo Israel, mặt khác sự xuất hiện của Kitô giáo do mọt người Do-thái tên là Giêsu, trong một thế giới đã được hy-hóa mà hết sức thấm đẫm xu hướng chiết trung (syncretism) và ngộ đạo (gnosticism). R. Bultmann chấp nhận tiền đề chiết trung này không chút do dự để giải thích sự hình thành của ngôn ngữ Kitô học trong Tân Ước (xem 1.1.8 ở dưới). Những người không chia sẻ niềm tin Kitô giáo cũng chấp nhận tiền đề chiết trung này. Nhưng khi tiền đề ấy được chấp nhận, Kitô học đã mất đi tất cả thực chất. Thế mà Kitô học này có thể được bảo toàn mà không cần phủ nhận giá trị của khoa Lịch sử các Tôn giáo.

1.1.5. TIẾP CẬN ĐỨC GIÊSU TỪ DO THÁI GIÁO

1.1.5.1. Rõ ràng Do-thái giáo phải là tôn giáo đầu tiên cần nghiên cứu để có thể hiểu được nhân cách của Đức Giêsu. Các Tin Mừng mô tả cho thấy Người như là người cắm rễ sâu vào quê hương và truyền thống của dân tộc Người. Kể từ đầu thế kỷ này, các học giả Kitô hữu đã minh chứng nhiều điểm song song giữa Tân Ước và văn chương Do-thái (x. Strack-Billerbeck, J. Bonsirven, v.v.). Gần đây hơn, các khám phá ở Qumran và việc tìm hiểu lại bản Targum Paléttina giải thích Ngũ Thư, đã gợi lại các vấn đề và thúc đẩy công việc nghiên cứu. Trước đó thường là vấn đề nghiên cứu loại này mới giãi ánh sáng trên giá trị lịch sử của các bàn văn Tin Mừng. Tuy nhiên, vào ngày hôm nay, người ta lại cố gắng nhận biết rõ ràng hơn các gốc rễ Do-thái của Kitô giáo, để mô tả đúng đắn gốc tích của Kitô giáo, mà không hề coi thường cái thân cây mà Kitô giáo đã được tháp vào.

1.1.5.2. Sau Thế Chiến I, một số sử gia Do-thái, đã bỏ đi sự thù hận kéo dài hằng bao thế kỷ – về điểm này, các nhà giảng thuyết Kitô giáo chẳng phải là vô tội – mà nhiệt tình nghiên cứu trực tiếp về con người Đức Giêsu và cội nguồn Kitô giáo (J. Klausner, M. Buber, J.G. Montefiore, v.v.). Họ tìm cách nêu ra tính chất Do-thái của Đức Giêsu (vd. P. Lapide), mối tương quan giữa giáo huấn của Người với giáo huấn các truyền thống của kinh sư, tính chất nguyên thuỷ mang tính ngôn sứ và khôn ngoan của mọt sứ điệp gắn bó chặt chẽ với đời sống tôn giáo của hội đường và đền thờ. Một số đề tài vay mượn được khám phá thấy nơi nền văn chương Qumran – bởi các sử gia Do-thái (Y. Yadin, v.v.) hoặc bởi những người hoàn toàn xa lạ với đức tin Kitô giáo (Allegro) – hoặc nơi các bản văn phụng vụ diễn giải Kinh Thánh (targums) – bởi các tác giả Do-thái (chẳng hạn, E.I. Kutscher, v.v.) hay bởi các Kitô hữu (R. Le Déaut, M. McNamara, v.v.).

1.1.5.3. Một vài sử gia Do-thái, khi quan tâm đến “người anh em Giêsu” (S. ben Chorin), đã nêu bật một số đường nét trong nhân cách của Người ; họ đã thấy Người là một  thầy dạy giống với các người Pharisêu cổ (D. Flusser) hoặc là một người làm phép lạ mà truyền thống Do-thái còn ghi giữ nhiều kỷ niệm (G. Vermes). Một vài người đã không ngần ngại so sánh cuộc khổ nạn của Đức Giêsu với Người Tôi Tớ đau khổ, được Sách Isaia nhắc đến (M. Buber). Tất cả các nỗ lực này (để giải thích) phải được các nhà thần học Kitô giáo chuyên nghiên cứu Kitô học phải nghiêm chỉnh quan tâm đến.

1.1.5.4. Tuy nhiên, một số tác giả Do-thái (chẳng hạn, S. Sandmel v.v.) có khuynh hướng gán cho Saolô thành Tácxô những phương diện của Kitô học vượt quá hình ảnh con người của Đức Giêsu, đặc biệt là tư cách Con Thiên Chúa của Người. Cách giải nghĩa như thế thì gần gũi với cách giải nghĩa của những học giả thuộc trường phái Lịch sử các Tôn giáo (Religionsgeschichtliche Schule), mặc dù không quên đặc tính Do-thái sâu xa của chính Phaolô. Dù sao, những nghiên cứu như thế về Do-thái giáo với tất cả nét đa dạng của nó trong thời của Đức Giêsu rõ ràng là một tiền đề cần thiết để hiểu biết được đầy đủ về nhân cách của Đức Giêsu và vai trò mà Kitô giáo tiên khởi gán cho Người trong “nhiệm cục cứu độ” (oikonomia). Hơn nữa, đây là nền tảng mà người ta có thể dựa vào để khởi đầu một cuộc đối thoại có hiệu quả giữa người Do-thái và các Kitô hữu, mà không có ý đồ hộ giáo.

1.1.6. KITÔ HỌC VÀ LỊCH SỬ CỨU ĐỘ

1.1.6.1. Trong thế kỷ 19, để phản ứng lại “chủ thuyết lịch sử” tự do (x. 1.1.3.1 ở trên) và chống lại chủ thuyết nhất nguyên duy tâm của Hegel, vẫn còn ảnh hưởng sâu rộng,  một số thần học gia Tin Lành bên Đức (chẳng hạn, J.T. Beck, J.C.K. von Hofmann) thừa nhận ý tưởng “lịch sử cứu độ” (Heilsgeschichte), rất gần gũi với điều các Giáo Phụ và các nhà thần học thời Trung Cổ gọi là “nhiệm cục cứu độ”. Vì Tin Mừng được đón nhận trong viễn cảnh khai mở cho đức tin, người ta cố gắng tìm trong lịch sử nhân loại những sự kiện có ý nghĩa, trong đó Thiên Chúa có thể nói là để dấu vết can thiệp của mình và qua các sự kiện này, Ngài hướng dẫn lịch sử vào chiều hướng “hoàn tất” ý định của mình. Những biến cố này tạo thành định hướng cho Thánh Kinh, và “cùng đích” lịch sử được gọi bằng tên “cánh chung”.

1.1.6.2. Dưới tiêu đề “lịch sử cứu độ”, Kitô học biểu lộ ra nhiều hình thức tùy theo khởi điểm được chọn để triển khai.

    (a) Cũng giống như trong các tác phẩm (khác) bàn về các tước hiệu của Đức Kitô trong Tân Ước (x. F. Hahn, V. Taylor, L. Sabourin, v.v.) hay về Đức Kitô như là “Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa” (A. Feuillet, v.v.), O. Cullmann đã khai triển trên nền tảng các danh hiệu này một Kitô học chủ yếu theo “chức năng”, tránh hoàn toàn mọi thứ tư tưởng “hữu thể học” theo kiểu siêu hình. Những danh hiệu đang được bàn đến hoặc là những danh hiệu được Đức Giêsu dùng cho chính Người, được liên kết mật thiết với các hành động và lối sống của Người, hoặc là những danh hiệu mà các nhà rao giảng Tin Mừng gán cho Người trong Tân Ước. Các danh hiệu này hoặc cho thấy công việc Người đã thực hiện trong cuộc sống trần thế, hoặc công việc đang được Người hoàn tất hiện nay trong Hội Thánh, hoặc công việc cuối cùng, công việc cánh chung mà niềm hy vọng chung cuộc của Hội Thánh đang hướng về. Các danh hiệu ấy cũng có liên hệ với cuộc tiền hữu của Người (P. Benoit). Như thế, cứu độ học (hay thần học về ơn cứu chuộc) trở nên một phần của Kitô học, theo cách khác với các khảo luận thần học cổ điển, vì các khảo luận này tách hai môn đó ra.

     (b) W. Pannenberg khởi đi từ sự kiện Đức Giêsu phục sinh mà coi đó như là sự tiền dự (hay “prolepsis”) vào chung kết của lịch sử. Bởi vì ông xác tín rằng người ta có thể chứng minh sự thật của sự kiện này bằng cách tra cứu theo lịch sử, ông cũng nghĩ rằng thần tính của Đức Giêsu được chứng minh cách chắc chắn. Ông cứu xét cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu khởi đi từ xác tín này: lời rao giảng của Người đã khai mạc Nước Trời giữa lòng nhân loại; cái chết của Người đã đưa lại ơn cứu độ cho loài người; và qua cuộc Phục sinh của Người, Thiên Chúa đã chuẩn nhận sứ vụ của Người.

    (c) J. Moltmann bắt đầu theo ngay viễn ảnh cánh chung: toàn thể lịch sử loài người dường như được định hướng theo một lời hứa. Những ai chấp nhận lời hứa này với niềm tin, thì sẽ thấy lời hứa đó là nguồn cho một niềm hy vọng quay hướng về chỗ đạt được “ơn cứu độ của Thiên Chúa”. Tuy nhiên, ơn cứu độ phải có một ảnh hưởng trên toàn thể cuộc sống của con người về mọi phương diện. Thật ra, ảnh hưởng này đã nhận thấy nơi các lời hứa của các ngôn sứ trong Cựu Ước. Các lời hứa này, Tin Mừng đã làm cho nên trọn khi loan báo cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu. Bằng thập giá, Thiên Chúa đã nhận lấy trên Con mình hình phạt và cái chết của loài người, để bằng một đường lối không ngờ, Ngài làm cho hình phạt và cái chết ấy thành phương tiện cứu độ. Vì yêu thương, Đức Giêsu đã trở thành Đấng chia sẻ nhân tính đang bị tội lỗi và các đau khổ đè nặng hầu có thể giải thoát loài người trọn vẹn, trong quan hệ với Thiên Chúa, cũng như trong cuộc sống tâm lý (nhân học), hoặc trong cuộc sống xã hội (xã hội học và chính trị học) của họ. Theo cách này, thần học về ơn cứu độ nhất thiết đưa tới một chương trình hành động. Người ta cũng thấy có mối quan tâm tương tự trong “lối chú giải mang tính xã hội” (x. G. Theissen, E.A. Judge, A.J. Malherbe, v.v.).

1.1.7. KITÔ HỌC VÀ NHÂN HỌC

    Được quy tụ lại dưới tiêu đề này là nhiều phương pháp luận với nét đặc trưng chung là khởi đi từ những phương diện xã hội khác nhau của kinh nghiệm nhân sinh hay của khoa nhân học. Theo cách thức riêng của mình, các phương pháp luận này mở ra lại những vấn đề đã được tranh luận trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 về “những dấu chỉ khả tín” dẫn tới đức tin. Những nghiên cứu như thế bắt đầu bằng việc khảo sát các dấu chỉ bên ngoài (khoa hộ giáo cổ điển), hoặc bằng kinh nghiệm tôn giáo trong tổng quát (nỗ lực của phái Duy Tân), hay bằng các đòi hỏi bên trong của “hành động” nhân linh đúng nghĩa (M. Blondel). Trong khi đó, các vấn đề này đã đi đến những thay đổi, và các thay đổi này ảnh hưởng trên việc nghiên cứu Kitô học.

1.1.7.1. P. Teilhard de Chardin giới thiệu con người như là “mầm non cuối cùng” (le “bourgeon terminal”) của cuộc tiến hoá toàn vũ trụ. Như thế, Đức Kitô, trong tư cách là Con Thiên Chúa nhập thể,  được xem như là nguyên lý hợp nhất toàn thể lịch sử nhân loại và toàn thể vũ trụ, ngay từ lúc khởi nguyên. Như vậy, nhờ cuộc chào đời và sống lại của Người, những ai tin thì có thể khám phá ra trọn vẹn ý nghĩa của toàn thể “hiện tượng nhân loại” qua việc sinh hạ và sống lại của Đức Giêsu. 

1.1.7.2. Theo K. Rahner, phải tìm khởi điểm của suy tư Kitô học trong cuộc sống con người và trong cái mà ngài gọi là phương diện “siêu nghiệm”(transcendentale): điều này chủ yếu hệ tại sự hiểu biết, tình yêu và sự tự do. Tuy nhiên, các phương diện này của cuộc sống được kiện toàn nơi bản thân Đức Giêsu, qua cuộc sống trần thế của Người. Qua sự sống lại, qua cuộc sống của Người trong Hội Thánh, qua hồng ân đức tin mà Thánh Thần ban cho các tín hữu, Người làm cho toàn thể dự phóng về của nhân loại được thực hiện, mà nếu không có Người, dự phóng này sẽ rơi vào thất bại.

1.1.7.3. Quan tâm đến sự xung đột hiện nay giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác trên thế giới cũng như những hình thái khác của thuyết nhân bản, H. Kušng tập trung nghiên cứu cuộc sống của con người Do-thái tên là Giêsu. Ngài khảo sát cách thức Đức Giêsu gánh lấy vụ việc của Thiên Chúa và vụ việc của nhân loại, rồi những biến cố đau buồn đã đưa Người đến cái chết, và cuối cùng cách sống mà Người đã cổ võ và đã sống làm mẫu và là cách sống đang không ngừng tuôn chảy trong Hội Thánh, nhờ Chúa Thánh Thần. Do đó, lối sống của Kitô hữu được xem như một thứ  “nhân bản thuyết triệt để” có thể mang lại cho loài người tự do đích thực.

1.1.7.4. Khi nghiên cứu kinh nghiệm cá nhân của Đức Giêsu, E. Schillebeeckx dự tính thiết lập một cái cầu nối giữa kinh nghiệm của Đức Giêsu và kinh nghiệm chung của nhân loại, và trước tiên với kinh nghiệm của những người đã từng là bạn đồng hành của Người khi Người còn tại thế. Cái chết mà Đức Giêsu phải trải qua trong tư cách một “ngôn sứ thời cánh chung” không hề kết thúc niềm tin của họ vào Người. Lời loan báo Người đã sống lại được hiểu như việc Thiên Chúa phê chuẩn cuộc sống của Người, cho thấy những người ấy đã nhận ra Đức Kitô chính là một dấu chỉ về  chiến thắng của Thiên Chúa trên cái chết và là một cam kết về ơn cứu độ đã được hứa ban cho tất cả những ai sẽ bước theo Người trong Hội Thánh Người.

1.1.8. GIẢI THÍCH “HIỆN SINH” VỀ ĐỨC GIÊSU KITÔ

    Ta gặp một tiếp cận nhân học tương tự về Đức Giêsu trong cách giải thích “hiện sinh” (hoặc “duy hiện sinh”) do R. Bultmann, vừa là nhà chú giải vừa là nhà thần học, đề xướng.

1.1.8.1. Trong tư cách là nhà chú giải, Bultmann nêu ra các kết quả tiêu cực mà phái Tin Lành “tự do” đã đi đến khi nghiên cứu về cuộc đời Đức Giêsu; ông cho rằng các nghiên cứu này không thể nào làm nền tảng cho thần học được. Cùng với những người theo trường phái Lịch sử các Tôn giáo, ông đồng ý rằng đức tin của Kitô giáo tiên khởi bắt nguồn từ một tổng hợp: các yếu tố Do-thái, đặc biệt những yếu tố lớn lên từ môi trường khải huyền, pha trộn với các yếu tố ngoại giáo đến từ các tôn giáo Hy-lạp. Kết quả là “Đức Giêsu của lịch sử” bị tách xa tối đa khỏi “Đức Kitô của niềm tin” (thể theo nguyên tắc được M. Kašhler đề nghị vào cuối thế kỷ 19).

1.1.8.2. Dù vậy, Bultmann vẫn muốn là một Kitô hữu trung thành và đề ra cho mình một nhiệm vụ thần học. Tuy nhiên, để bảo vệ uy tín của “kerygma” Tin Mừng, đã được mở đầu bởi cách Đức Giêsu sống trước mặt Thiên Chúa, Bultmann tiến hành giản lược sứ điệp này vào lời công bố ơn tha thứ được Thiên Chúa ban cho kẻ tội lỗi. Sứ điệp này được diễn tả ra bằng thập giá của Đức Kitô, “Lời” chân thật của Thiên Chúa được ghi vào trong mọt sự kiện lịch sử. Trong Lời này, sứ điệp Phục sinh được hàm chứa; quả thật, người ta phải đáp trả sứ điệp này bằng một “quyết định đức tin” (x. Soren Kierkegaard). Chỉ quyết định này mới cho con người khả năng bước vào một cuộc sống mới và “chân chính” trọn vẹn. Tuy vậy, tự nó đức tin này không có nội dung giáo lý; nó thuộc về trật tự “hiện sinh”, trong đó nó hệ tại cam kết về “tự do”, nhờ đó con người hoàn toàn sống cho Thiên Chúa.

1.1.8.3. Theo Bultmann, ngôn ngữ “huyền thoại” của thời đại đã được dùng để diễn tả các công thức Kitô học và cứu độ học gặp thấy trong Tân Ước. Ông nói, ngôn ngữ này cần phải được “giải huyền”, nghĩa là phải được giải thích và khi giải thích thì phải chú ý đến các luật lệ thuộc ngôn ngữ huyền thoại, sao cho có thể làm nổi lên mọt cách giải thích hiện sinh. Mục tiêu của cách giải thích này không chỉ nhắm làm cho các hệ luận thực tiễn của sứ điệp Tin Mừng được đưa ra ánh sáng, nhưng còn nhắm cho thấy các “phạm trù” mà cấu trúc của cuộc sống của con người đã được cứu độ phải lệ thuộc. Về điểm này, suy luận của Bultmann lệ thuộc chặt chẽ vào các nguyên tắc triết học mà Heidegger đã trình bày trong quyển “Sein und Zeit” (Hiện hữu và Thời gian).

1.1.8.4. Trong công trình chú giải của ông, Bultmann, không khác gì những nhà thần học đương thời là M. Dibelius và K.L. Schmidt, đã đi quá cách phê bình văn chương cổ điển, để đi đến việc phê bình các “hình thức” văn chương đã góp phần “tạo nên” các bản văn (Formgeschichte). Mục tiêu của nghiên cứu (mang tính phê bình) ấy không phải là rút ra từ các bản văn Tin Mừng các chân lý lịch sử về Đức Giêsu cho bằng là thiết lập được liên hệ giữa các bản văn này với đời sống cụ thể của “cộng đoàn tiên khởi”, nhờ xác định vị trí và phận vụ của chúng (Sitz im Leben), để vén mở ra thật sống động các phương diện khác nhau của đức tin trong cũng cộng đoàn ấy. Tuy nhiên, dù không phủ nhận các nghiên cứu chính của thầy, các đồ đệ của chính Butlmann lại cảm thấy cần phải đặt chính Đức Giêsu vào ngay khởi đầu và nguồn gốc của Kitô học (E. Kašsemann v.v.).

1.1.9. KITÔ HỌC VÀ CÁC vấn đề  XÃ HỘI

1.1.9.1. Vì cuộc hiện sinh con người lệ thuộc vào đời sống trong xã hội, một số “độc giả”, thần học gia hay những người khác, do bận tâm đến các vấn đề thực tiễn do cuộc sống xã hội đặt ra, đã quay ra chú ý đặc biệt đến Đức Giêsu. Trong khi họ quan sát thấy, hoặc chính họ trải nghiệm, các tệ đoan trong các xã hội con người, họ đã vận dụng “praxis” (lối thực hành) Đức Giêsu đã từng theo để tìm ra một mẫu có thể áp dụng vào thời đại chúng ta. Vào thế kỷ 19, một số nhà xã hội học, gọi là những nhà “không tưởng” (x. Proudhon), đã dành nhiều nghiên cứu cho các nguyên tắc xã hội của Tin Mừng. Ngay cả K. Marx, dù hoàn toàn loại trừ tôn giáo, cũng gián tiếp chịu ảnh hưởng phong trào chờ đợi Đấng Mêsia của Kinh Thánh. Hài hòa với lý thuyết “đấu tranh giai cấp” của ông, F. Engels đã đề nghị một cách giải thích niềm hy vọng của Kitô giáo tiên khởi, như thấy được chẳng hạn trong sách Khải huyền.

1.1.9.2. Vào thời đại chúng ta, các hình thái khác nhau của thần học giải phóng, đã  được đặc biệt triển khai tại Châu Mỹ La-tinh, đang coi “Đức Kitô, Đấng Giải phóng”, Đấng đã được một vài sử gia phác họa ra như một đối thủ chính trị chống lại đế quốc Rôma (x. S.G.F. Brandon), là nền tảng cho một một thứ hy vọng và một “praxis (cách thực hành)”. Theo họ, để mang lại cho con người một tự do xã hội và chính trị, Đức Giêsu lại không đứng về phía người nghèo, và đã không đứng lên chống lại những  quá lạm của các uy quyền đang áp bức dân chúng trong lãnh vực kinh tế, chính trị, ý thức hệ và thậm chí tôn giáo đó sao? Tuy nhiên, các thứ thần học kiểu này có rất nhiều dạng. Đối với một số dạng, cần phải nhấn mạnh đến tính bao quát của công cuộc giải phóng, trong đó có cả quan hệ cơ bản của con người với Thiên Chúa (chẳng hạn G. Gutierrez, L. Boff, v.v.). Có những dạng lại tập trung chủ yếu vào các tương quan xã hội giữa con người với nhau (chẳng hạn J. Sobrino).

1.1.9.3. Ngoài ra, một số người Mác-xít, cho dù vô thần,  đi tìm một “nguyên lý hy vọng” (E. Bloch) và coi “praxis” của Đức Giêsu, dựa trên tình huynh đệ, như một con đường mở ra với cuộc xuất hiện một nhân loại mới biết đâu có thể có trong lịch sử, trong đó chủ thuyết “cộng sản” toàn diện sẽ tìm ra được hình thái hoàn hảo của nó (chẳng hạn  M. Machovec).

1.1.9.4. Cũng có những người đọc Tin Mừng và chấp nhận về nguyên tắc việc giải thích các hiện tượng xã hội và các sự việc của con người được đề nghị bởi những người Mác-xít đương thời, họ bắt các bản văn Tân Ước theo các phương pháp phân tích của trường phái này, và lập ra một cách “đọc theo kiểu duy vật”. Theo cách này, họ rút ra từ các văn bản ấy những nguyên tắc cho một “praxis” giải phóng, mà theo họ, tách biệt khỏi mọi thứ “ý thức hệ của Giáo Hội”, để họ có thể dùng làm nền tảng cho chính hoạt động xã hội của họ (F. Belo). Có những nhóm học giả, trong số đó có những Kitô hữu trung thực, đã vận dụng phương pháp này để liên kết lý thuyết với hành động, mà không nhất thiết phải theo đuổi các mục đích lý thuyết của chủ thuyết “duy vật biện chứng”.

1.1.9.5. Tất cả “những cách đọc” (các Tin Mừng) này đều tập trung chú ý vào Đức Giêsu “lịch sử”. Quả thế, thể theo quan điểm của họ, chính Đức Giêsu trong tư cách là một con người, là khởi điểm cho một thứ “praxis” mang tính giải phóng; và cách hành động này phải được tái tháp nhập vào trong thế giới hôm nay, nhờ sự giúp đỡ của những phương pháp và những phương tiện mới. Một cách nào đó, các nỗ lực giải thích này thế chỗ cho điều mà trong thần học cổ điển, người ta coi là thuộc về giáo lý về ơn cứu độ và đạo đức học xã hội.

1.1.9.6. Theo một quan điểm khá khác biệt, hôm nay đã xuất hiện một vài nghiên cứu nhắm vào một nền thần học thực hành. Các nghiên cứu này liên hệ đến các vấn đề thuộc lãnh vực xã hội và chính trị, và tìm cách cống hiến cho con người, nhất là các tầng lớp nghèo khổ và bị áp bức, một niềm hy vọng có tính thực hữu và có thể thực hiện được: nhờ thập giá Đức Kitô, Thiên Chúa đã làm cho chính Người trở nên thành viên thân thiết của nhân loại đau khổ hầu thực hiện cuộc giải phóng cho họ (x. J.B.Metz). Nói như thế, là đã bước vào lãnh vực luân lý.

1.1.10. NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ HỆ THỐNG KIỂU MỚI

1.1.10.1. Dưới tiêu đề này, quy tụ lại hai tổng hợp, trong đó Kitô học (Christo-logie)  được hiểu như một mạc khải thần học (théo-logique) về chính Thiên Chúa. Một tổng hợp là của K. Barth, còn tổng hợp kia là của H.U. von Balthasar. Trong mỗi tổng hợp, không phải là các tác giả không biết đến các kết quả mới đây của khoa phê bình Kinh Thánh; nhưng mỗi tổng hợp vận dụng toàn bộ Kinh Thánh để trình bày một tổng hợp có tính hệ thống. Đức Giêsu Nadarét và Đức Kitô của niềm tin chỉ là hai phương diện liên kết mật thiết với nhau để giới thiệu việc Thiên Chúa tự mạc khải trong lịch sử nhân loại. Mạc khải này được mở ra rõ ràng và trở nên hiển nhiên nhờ niềm tin mà thôi (K. Barth). Theo H.U. von Balthasar, sự “tự hạ” (kenosis) của Đức Kitô, được bày tỏ qua việc triệt để vâng phục Chúa Cha, cho đến cái chết trên thập giá, cho thấy một đặc điểm chính yếu của đời sống Thiên Chúa Ba Ngôi, đồng thời thực hiện việc cứu độ nhân loại tội lỗi, khi Người trải qua kinh nghiệm cái chết vì nhân loại.

1.1.10.2. Theo K. Barth, trọn cuộc sống của Đức Kitô có ý nghĩa chỉ vì Người là Ngôi Lời tối thượng của Chúa Cha. Khi chuyển thông Lời này vào trong Hội Thánh nhờ Thánh Thần của Ngài, Thiên Chúa khai mở con đường đi đến một nền luân lý đòi buộc các tín hữu phải dấn thân trong các sự việc của thế giới này, thậm chí vào trong các sự việc có bản chất chính trị. Nhưng theo H.U. von Balthasar, người ủng hộ một cách chiêm ngưỡng Thiên Chúa qua phương thế ngài gọi là “thẩm mỹ”, suy tư thuần lý, khảo sát lịch sử và dấn thân của tự do con người do tình yêu kết tụ lại nơi chính mầu nhiệm Vượt Qua. Từ đó được phác họa ra một nền thần học về lịch sử tránh được các kết luận quá gò bó của những nhà Duy tâm và Duy vật.

1.1.11. CÁC KITÔ HỌC “TỪ TRÊN” VÀ CÁC KITÔ HỌC “TỪ DƯỚI”

1.1.11.1. Trong số các Kitô học đã nói trên, những Kitô học nào khởi đi với “Đức Giêsu lịch sử” dường như có thể nói là giống các Kitô học khởi đi “từ dưới”. Ngược lại, những Kitô học nào tập trung vào liên hệ của Đức Giêsu với Thiên Chúa Cha thì có thể được gọi đúng đắn là các “Kitô học từ trên”. Một số các tác giả đương thời cố gắng phối hợp hai phương diện này. Bắt đầu bằng một nghiên cứu mang tính phê bình trên các bản văn (Tân Ước), họ cho thấy rằng Kitô học hàm ẩn trong các lời nói và kinh nghiệm nhân bản của Đức Giêsu làm nên một sự liên tục và được liên kết sâu xa với các Kitô học khác được tìm thấy minh nhiên trong Tân Ước. Tuy nhiên, dây liên kết hợp nhất này được khám phá ra bằng nhiều cách rất khác nhau (chẳng hạn  L. Bouyer, R. Fuller, C.F.D. Moule, I.H. Marshall, B. Rey, Chr. Duquoc, W. Kasper, M. Hengel, J.D.G. Dunn, v.v.).

1.1.11.2. Tuy các tiếp cận và các kết luận của các tác giả này còn lâu mới đạt được sự đồng ý, chúng có chung hai điểm chính sau:

    (a) Người ta phải phân biệt, một đàng, cách  Đức Giêsu tự giới thiệu chính mình  cho người đương thời và có thể được họ hiểu (gia đình Người, các đối thủ, các môn đệ); đàng khác, cách những người đã tin Đức Giêsu hiểu đời sống và bản thân Người sau những lần Người tỏ mình ra như Đấng Phục sinh từ cõi chết. Quả thật, giữa hai thời kỳ này, không hề có sự gián đoạn nào; tuy nhiên người ta ghi nhận có một sự tiến triển không ít quan trọng, mà vẫn tương hợp với các quan điểm trước, và phải được coi như một yếu tố cấu thành Kitô học. Kitô học này, nếu phải quan tâm đến các giới hạn của nhân tính của “Đức Giêsu Nadarét”, thì cũng phải nhìn nhận Người đồng thời là “Đức Kitô của niềm tin”, đã được mạc khải trọn vẹn nhờ cuộc Phục sinh dưới ánh sáng Chúa Thánh Thần.

     (b) Cũng phải ghi nhận rằng trong chính các sách Tân Ước đã xuất hiện những cách hiểu khác nhau về mầu nhiệm Chúa Kitô. Tuy nhiên, ta thấy được điều này khi một kiểu nói của Cựu Ước được sử dụng, và khi Kinh Thánh được bảo là đã hoàn tất nơi Đức Giêsu, Đấng Cứu độ trần gian. Bởi vì sự hoàn tất Kinh Thánh giả thiết là có một hiện tượng khuếch đại ý nghĩa nào đó, cho dù đây là một vấn đề của một ý nghĩa mà các bản văn Thánh Kinh có tự ban đầu, hay một ý nghĩa mà người Do-thái, khi đọc lại các bản văn này, đã gán cho chúng vào thời Đức Giêsu. Thật ra, không nên gán việc khuếch đại ý nghĩa này cho kiểu suy luận thần học đơn thuần; nó bắt nguồn nơi chính con người Đức Giêsu, và nêu bật hơn những đặc điểm của Người.

 1.1.11.3. Với những nhận định như thế, các nhà chú giải và thần học tiếp cận vấn đề về nhân cách cá nhân của Đức Giêsu.

     (a) Nhân cách cá nhân này được vun trồng và hình thành nhờ một nền giáo dục Do-thái, những giá trị tích cực của nền giáo dục này mà Đức Giêsu đã đón nhận trọn vẹn cho mình. Nhưng nhân cách này còn được phú ban một ý thức độc đáo về chính mình trong liên hệ với Thiên Chúa cũng như với sứ vụ Người phải thực hiện cho loài người. Một vài bản văn Tin Mừng (chẳng hạn Lc 2,40.52) đưa chúng ta đến chỗ nhận ra một sự tăng trưởng nào đó trong ý thức này.

     (b) Tuy nhiên, các nhà chú giải cũng như các nhà thần học (này) từ chối nói đến một  “tâm lý” của Đức Giêsu, vừa vì những vấn đề phê bình trong các bản văn vừa vì nguy cơ của những suy diễn lạm dụng, dù theo hướng phóng đại hay giảm thiểu. Họ chọn tỏ ra một thái độ thận trọng đầy kính cẩn khi đứng trước mầu nhiệm nhân cách Người. Đức Giêsu đã không tìm cách xác định nhân cách này rõ ràng, cho dù qua các lời nói hoặc các hành động của Người, quả thật Người có cho người ta thấy điều gì đó về các bí mật của cuộc sống thâm sâu của Người (H. Schušrmann). Các Kitô học khác nhau trong Tân Ước, cũng như các định tín của các Công đồng, trong đó lặp đi lặp lại bằng một “ngôn ngữ bổ trợ”, các điều đã được chứa đựng trong Kinh Thánh, đã cho thấy con đường mà suy lý thần học có thể theo mà tiến hành, mà nói chính xác không cần vén mở chính mầu nhiệm.

1.1.11.4. Trong các nghiên cứu của họ về Đức Giêsu Kitô, các nhà chú giải và các nhà thần học (này) đều đồng ý không được tách Kitô học ra khỏi cứu độ học bất cứ cách nào. Ngôi Lời Thiên Chúa đã làm người (Ga 1,14) để thực hiện vai trò trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Nếu như Người đã có thể là một con người “hoàn toàn tự do” và là “một người vì tha nhân”, đó là vì sự tự do này và sự hiến mình này tuôn trào từ một nguồn mạch không gì khác hơn là sự kết hợp mật thiết của Người với Thiên Chúa, vì Người có thể quay hướng về Thiên Chúa như Cha của Người theo một nghĩa đặc biệt và hoàn toàn duy nhất. Như vậy, các câu hỏi về sự hiểu biết và về sự tiền hữu của Đức Kitô là điều không sao tránh được; nhưng mỗi câu hỏi thuộc về một giai đoạn muộn màng của Kitô học.

Chương 2

NHỮNG NGUY CƠ VÀ GIỚI HẠN CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU NÀY

    Mỗi một tiếp cận đã được nhắc đến ở trên có những điểm mạnh, dựa trên các bản văn Kinh Thánh, và cũng có những lợi điểm và những đặc điểm đầy khích lệ. Nhưng có một số các tiếp cận, nếu sử dụng riêng lẻ, sẽ gặp nguy cơ là không giải thích được trọn vẹn sứ điệp Tin Mừng hay thậm chí còn đề nghị trình bày một hình ảnh méo mó về Đức Giêsu Kitô. Vì vậy, cần phải thẩm định về các giới hạn của những nhiều tiếp cận.

1.2.1. TIẾP CẬN CỦA THẦN HỌC CỔ ĐIỂN gặp hai nguy cơ:

1.2.1.1. Việc diễn tả ra giáo lý về Đức Kitô tùy thuộc vào ngôn ngữ của các nhà thần học thời các Giáo Phụ và thời Trung Cổ hơn là vào ngôn ngữ của chính Tân Ước, y như thể nguồn sau này của mạc khải, tự nó, quá thiếu chính xác hầu có thể trình bày  giáo lý bằng một ngôn ngữ diễn tả thật rõ ràng.

1.2.1.2. Việc quay về với Tân Ước, nếu chỉ là do mối bận tâm bảo vệ hay thiết lập giáo lý được gọi là “truyền thống” trong cách trình bày “cổ điển”, gặp nguy cơ là không mở ra được, như lẽ ra nó phải mở ra, với một số vấn đề phê bình không thể tránh được trong lãnh vực chú giải. Chẳng hạn có thể xảy ra chuyện này là sử tính của tất cả các chi tiết trong một số bài tường trình của Tin Mừng lại được chấp nhận quá dễ dàng khi mà trong các bài tường thuật ấy, vấn đề lại nằm ở các chi tiết nhỏ bé.  Rất có thể các chi tiết ấy có một mục tiêu thần học thể theo một quy ước văn chương của thời ấy. Hoặc tính xác thực từng từ một của một số lời nói được gán cho Đức Giêsu trong các Tin Mừng lại cũng được chấp nhận quá dễ dàng, cho dù những lời này được kể lại theo nhiều cách khác nhau trong các Tin Mừng ấy. Do đó, một số  vấn đề có thể không được lưu tâm, nên ngày nay được đưa ra tranh luận là hợp lý. Vì thế có thể xảy ra là các mệnh đề tín lý đã được tạo ra như là những giải pháp kiểu “bảo thủ”, mà trong thực tế chúng cần được đưa ra tranh luận.

1.2.2. Cố gắng suy lý thần học tiến hành khởi đi từ việc phê bình ngôn ngữ được các nhà thần học và các Công đồng sử dụng, về căn bản là đúng đắn. Nhưng để đừng bóp méo chứng từ của Kinh Thánh, công việc phê bình này cần được điều hành bởi hai điều kiện cần thiết :

1.2.2.1. Những ngôn ngữ “bổ trợ” được sử dụng trong dòng lịch sử Giáo Hội, trong liên hệ với đức tin, không có một giá trị như “ngôn ngữ quy chiếu” được các tác giả linh hứng sử dụng, đặc biệt là ngôn ngữ của Tân Ước với cách thức diễn tả bắt nguồn từ Cựu Ước. Để có thể nắm bắt được “Tính tuyệt đối của Mạc khải” xuyên qua trung gian của một vài ngôn ngữ tương đối, cho dù vẫn có sứ  liên tục giữa kinh nghiệm căn bản của Giáo Hội thời các tông đồ và kinh nghiệm sau đó của Giáo Hội, phải có những phân biệt và phân tích cần thiết, nhưng không được được hy sinh các khẳng định mô thức của Kinh Thánh.

1.2.2.2. Trong vấn đề này, có nguy cơ là gán một giá trị tuyệt đối cho các cách thức suy tư và nói năng thuộc về thời đại chúng ta, kết quả là việc hiểu biết Đức Kitô tuôn trào từ các Tin Mừng có thể bị đặt thành vấn đề. Điều này chắc chắn có thể xảy ra, nếu các bản văn Tân Ước đã phải chịu một quá trình tuyển lựa hoặc đã bị giải thích theo cách của nhiều hệ thống triết lý. Nhưng một Kitô học không thể đứng vững nếu không duy trì được sự quân bình phát xuất từ Kinh Thánh được coi như một toàn bộ  và từ việc đón nhận các ngôn ngữ khác nhau được Kinh Thánh sử dụng. 

1.2.3. Các tra cứu lịch sử có tầm quan trọng rất lớn đới với việc tìm hiểu các nhân vật cũng như những biến cố trong quá khứ; chúng cũng được áp dụng trong trường hợp của Đức Giêsu thành Nadarét. Đương nhiên, người ta không thể bỏ qua bất cứ một dữ kiện lịch sử nào về môi trường trong đó các chứng từ này (về Người) đã được đón nhận và được tiếp tục lưu truyền (x. 1.1.3 ở trên).

1.2.3.1. Dù vậy, chỉ nguyên việc phân tích bản văn mà thôi cũng không đủ. Bởi vì các bản văn này được sáng tác và đón nhận trong một cộng đoàn gồm những con người sống không bằng các tư tưởng trừu tượng nhưng bằng đức tin. Đức tin này bắt nguồn và tăng trưởng tiệm tiến nơi cuộc Phục sinh của Đức Giêsu; đây là một biến cố cứu độ được đưa vào giữa những con người đã chia sẻ kinh nghiệm tôn giáo của các cộng đoàn Do-thái khác nhau.

1.2.3.2. Vì ghi nhận được một sự khác biệt lớn lao giữa đức tin của các cộng đoàn Do-thái và đức tin của Hội Thánh Kitô giáo, ta đã có thể dễ dàng quên mất tính liên tục về lịch sử giữa đức tin tiên khởi của các tông đồ dựa trên “Luật Môsê, các Ngôn sứ và các Thánh vịnh” (Lc 24,44) và đức tin mà chính họ có được nhờ liên hệ với Đức Kitô phục sinh. Tuy vậy, sự liên tục này cũng là một sự kiện lịch sử. Có một sự liên tục trong việc họ nhận biết vị Thiên Chúa của Abraham và của Môsê trước vàsau biến cố Phục sinh. Họ đã sống với “Đức Giêsu lịch sử” trước khi sống với “Đức Kitô của niềm tin”. Do đó, mặc cho các nhà chuyên môn hôm nay có những xu hướng chủ quan nào, nhiệm vụ của tất cả mọi người là phải điều tra tính thống nhất sâu xa mà  Kitô học của Tân Ước cho thấy như là liên hệ mật thiết với chính quá trình phát triển của Kitô học.

1.2.4. Dù cần có sự giúp đỡ của khoa đối chiếu các tôn giáo trong bất cứ cuộc điều tra nào liên hệ đến nguồn gốc Kitô giáo, sử dụng môn này chứa chất hai nguy cơ.

1.2.4.1. Môn này có thể bị một định kiến làm cho nên méo mó: đó là tôn giáo của Đức Kitô cần phải được giải thích, như trong tất cả các trường hợp tương tự, bằng cách hòa trộn các yếu tố đã có trước trong môi trường xã hội trong đó tôn giáo đó phát sinh, tức là một số yếu tố từ Do-thái giáo, một số từ các thứ ngoại giáo đương thời: tôn giáo của Đức Kitô hẳn đã xuất phát từ cuộc gặp gỡ của một nhóm tín hữu gốc Do-thái với một môi trường xã hội hy hóa, từ môi trường này, nhóm người ấy đã vay mượn nhiều yếu tố. Nhưng ngay vào thế kỷ 3 trước công nguyên, Do-thái giáo đã phải chạm trán với những vấn để của phong trào Hy hóa, hoặc bằng cách loại bỏ những yếu tố đi ngược lại với truyền thống của mình hoặc bằng cách hấp thụ các yếu tố tốt có thể làm cho mình nên phong phú hơn. Tuy nhiên, khi họ chuyển cho các thế hệ sau đó bộ Kinh Thánh đã được dịch ra tiếng Hy-lạp, họ đã cho thấy họ thành công trong việc “hội nhập văn hóa”. Kitô giáo nguyên thuỷ, kế thừa bộ Kinh Thánh là bản dịch này, cũng bước theo một nẻo đường tương tự. 

1.2.4.2. Cũng có nguy cơ gán cho các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi một sức mạnh sáng tạo tách không hề được kiểm soát chút nào ở bên trong, y như thể là các Giáo Hội riêng lẻ không có khung cảnh hoặc không có truyền thống vững chắc. Một số sử gia đã chỉ nhìn Đức Kitô không hơn gì một “huyền thoại”, hoàn toàn không có chút sử tính nào. Một cái nhìn như thế, đầy nghịch lý, thường bị ngăn ngừa; nhưng một số không ít các sử gia vô tín lại cứ cho rằng các cộng đoàn Kitô hữu xuất phát từ phong trào Hy hóa đã biến “đấng cứu độ” của truyền thống Do-thái trở thành vị “anh hùng” số một của một “tôn giáo cứu độ”, không khác bao nhiêu so với các nền phụng tự của các tôn giáo huyền bí. Tuy nhiên, khoa nghiên cứu so sánh các tôn giáo không cần đến một nguyên tắc tiến hóa như thế để làm nền cho kiểu giải thích này. Khoa này chỉ cố gắng phát hiện “các hằng số” trong lịch sử các tôn giáo, chứ không san bằng các niềm tin tôn giáo nhằm làm méo mó chúng đi. Cũng như trong nghiên cứu các tôn giáo khác, thì trong nghiên cứu Kitô giáo, nhiệm vụ của việc điều tra ấy là khám phá  ra sự đặc tính riêng tư của tôn giáo Đức Kitô, được liên kết với tính mới mẻ của Tin Mừng. Như thế, nhờ cách đi xiên của hiện tượng luận, nghiên cứu ấy có thể mở ra con đường đi đến chính Kitô học.    

1.2.5. Chuyên chăm nghiên cứu Do-thái giáo là việc hết sức quan trọng để hiểu đúng đắn con người Đức Giêsu, cũng như Giáo Hội sơ khai và niềm tin chuyên biệt của Giáo Hội.

1.2.5.1. Nếu để hiểu Đức Giêsu, các nghiên cứu chỉ được hướng dẫn theo các đường nét này, thì vẫn có nguy cơ cắt xén nhân cách của Người, ngay khi các nghiên cứu này nhấn mạnh đến việc phải quan tâm đến bối cảnh và đặc tính Do-thái của Người. Phải chăng Người chỉ là một trong số nhiều thầy dạy, cho dù là vị thầy trung thành nhất với truyền thống của Lề Luật và các Ngôn sứ ? Phải chăng Người là một ngôn sứ, rồi là một nạn nhân của một sự sai lầm tai hại? Hay là Người là một người làm những việc lạ lùng như biết bao người khác hôm nay vẫn còn được nền văn chương Do-thái tưởng nhớ? Hay Người còn là một kẻ xác động về chính trị để rồi cuối cùng đã bị giới chức Rô-ma cấu kết với các  thượng tế xử tử, vì đã không hiểu Người?  

1.5.2. Quả đúng là các căng thẳng đã đặt Đức Giêsu vào thế đối lập với các nhóm Pharisêu vẫn giữ kỷ luật nghiêm nhặt có phần giống như các cuộc tranh luận giữa các anh em chia sẻ cùng một gia tài. Nhưng sau khi Người bị các nhà lãnh đạo tôn giáo của đất nước loại trừ, sinh lực sau đó của phong trào khởi xướng với Người cho thấy rõ ràng rằng nguyên nhân chính của sự bất đồng ấy sâu xa hơn, cho dù người ta chấp nhận rằng về điểm này, các trình thuật Tin Mừng có thể đã tạo làm cho hoàn cảnh nguyên thủy thêm căng thẳng. Bởi vì sự bất đồng ý kiến này nhằm vào một cách hiểu mới tương quan với Thiên Chúa và “sự hoàn tất Kinh Thánh”, mà Đức Giêsu mang đến cho người đương thời qua Tin Mừng về Nước Thiên Chúa. Muốn nghiên cứu kỹ càng về đặc tính Do-thái của Đức Giêsu, người ta không được phép bỏ qua phương diện này của Người. 

1.2.6. Về tiếp cận Đức Giêsu Kitô khởi đi từ ý niệm gọi là lịch sử cứu độ, người ta phải đồng ý rằng cách này đã đưa vào trong nghiên cứu những lợi điểm quan trọng, cho dù thuật ngữ Heilsgeschichte (Lịch sử cứu độ) khá mơ hồ. Các vấn nạn gây nên bởi tiếp cận này còn thay đổi tuỳ theo tác giả sử dụng.  

1.2.6.1. Trong các ngôn ngữ hiện đại dẫn xuất từ tiếng La-tinh cũng như trong Anh-ngữ, từ ngữ “lịch sử” không có cùng một ý nghĩa khi người ta nói về Đức Giêsu như một nhân vật “lịch sử” và khi nói về “lịch sử cứu độ”. Tiếng Đức phân biệt giữa Historie và Geschichte; nhưng  từ ngữ phải sử dụng cũng thật sự là một vấn đề khó khăn. Bởi vì việc hiểu biết Đức Giêsu trong lịch sử dựa trên những sự kiện thực nghiệm được hoặc trên kinh nghiệm, người ta đạt được nhờ học hỏi các tài liệu. Nhưng cái gọi là “lịch sử cứu độ” lại không đặt nền tảng như thế. “Lịch sử cứu độ” bao gồm một kinh nghiệm chung, nhưng giả thiết một sự hiểu biết mà người ta chỉ có thể đạt được nhờ sự nhận thức với đức tin. Cần phải chú ý đến sự phân biệt này để đặt Kitô học vào vị trí đích thực của nó. Điều này gợi ý  rằng, cả nơi sử gia cũng như nơi nhà thần học, cần phải có một tâm trí cởi mở ra với đời sống đức tin.   

1.2.6.2. Nhận xét này phải được đặc biệt áp dụng vào cuộc Phục sinh của Đức Kitô, vì  ngay tự bản chất, sự kiện này không thể chứng minh được theo cách thực nghiệm.  Bởi vì, do cuộc Phục sinh này, Đức Giêsu được đưa vào “thế giới sẽ đến”. Quả thật, điều này có thể đã được diễn dịch ra từ những lần Đức Kitô hiện ra trong vinh quang với các chứng nhân ưu tuyển chọn, và sự kiện này còn được củng cố bởi sự kiện là mồ của Đức Giêsu được thấy là mở ra rồi và trống rỗng. Nhưng ta không được đơn giản hóa vấn nạn này thái quá, y như thể bất cứ sử gia nào, chỉ cần vận dụng phương pháp tra cứu khoa học, là có thể chứng minh chắc chắn được rằng đấy là một sự kiện mà bất cứ quan sát viên nào cũng có thể đạt được. Trong vấn đề này cũng còn cần đến “quyết định đức tin”, hoặc rõ hơn, “một con tim mở rộng”, để kiểm soát lập trường đã lấy.

1.2.6.3. Về các danh hiệu của Đức Kitô, thực sự không đủ khi chỉ phân biệt giữa các danh hiệu Đức Kitô tự gán cho mình trong cuộc sống tại thế và các danh hiệu được các nhà thần học thời các tông đồ gán cho Người. Quan trọng hơn nữa là phải phân biệt giữa các danh hiệu chỉ “phận vụ” xác định các vai trò của Người trong việc thực hiện ơn cứu độ cho loài người và các danh hiệu chỉ tương quan, liên hệ đến tương quan của Người với Thiên Chúa, cho thấy Người vừa là Ngôi Lời vừa là Con. Khi cứu xét vấn đề này, cần khảo sát các thói quen, các hành vi và cách cư xử của Đức Giêsu  không kém kỹ càng như khi tìm hiểu các tước hiệu, bởi vì chúng vén mở cho thấy những gì sâu kín nhất nơi một con người.    

1.2.6.4. Nói rằng lịch sử cứu độ nhắm tới cánh chung và nói rằng một niềm hy vọng xuất phát từ đó, thì có những hậu quả quan trọng cho “praxis” Kitô giáo trong các xã hội loài người. Nhưng từ ngữ “cánh chung” tự nó có tính dị nghĩa. Phải chăng phải coi “các thời cuối cùng” như là ở bên kia kinh nghiệm lịch sử? Phải chăng Đức Giêsu đã loan báo là “thế giới này” sẽ kết thúc trước khi thế hệ của thời Người qua đi? Hay là phải chăng bằng cách đó Người đã đưa vào cách mới để nhìn xem các hòan cảnh mà lịch sử nhân loại phải trải qua? Phải chăng đúng hơn đây là một vấn đề liên quan đến giai đoạn cuối cùng của oikonomia (nhiệm cục) cứu độ, đã được khai mào bằng sứ điệp của Tin Mừng về Nước Thiên Chúa, nhưng chưa thành tựu, đang trải dài qua toàn thời gian của lịch sử Hội Thánh? Một Kitô học đúng nghĩa phải trả lời tất cả các câu hỏi loại này.

1.2.7. Nguy cơ  mà một số tiếp cận nhân học gặp phải khi tìm hiểu Kitô học, các tiếp cận này bao gồm trọn một thang gồm nhiều cách suy tư, đã được ghi nhận nơi khuynh hướng của chíng là làm giảm nhẹ một số cấu tố làm nên một con người trong cuộc hiện sinh và lịch sử của họ. Do đó, theo cách này, có thể phát xuất một thứ Kitô học khiếm khuyết.

1.2.7.1. Về hiện tượng nhân linh, phương diện tôn giáo của nó có được nghiên cứu đầy đủ chăng về mặt phát triển trong lịch sử, sao cho có thể đặt được con người Đức Giêsu và việc thiết lập Hội Thánh vào ngay trong môi trường Do-thái bên trong diễn tiến của cuộc tiến hóa phổ quát? Cách giải thích lạc quan về sự tiến hóa này, nhắm vào “điểm Omega”, có dành đủ chỗ chăng cho vấn đề sự dữ và cho hoạt động cứu chuộc của cái chết Đức Giêsu, cho dù người ta lại quan tâm đến các cuộc khủng hoảng mà cuộc tiến hóa nhân loại phải vượt qua? Các nghiên cứu về con người Đức Giêsu và về các Kitô học trong Tân Ước sẽ cung cấp nhiều bổ sung cần thiết cho vấn đề nầy.  

1.2.7.2. Những cố gắng suy lý đề cập đến phân tích triết học về cuộc hiện sinh con người gặp nguy cơ là bị loại trừ bởi những người không công nhận các tiền đề triết học được vận dụng. Chắc chắn các dữ kiện Kinh Thánh (liên hệ đến Đức Giêsu Kitô) không bị coi thường (trong tiếp cận này); nhưng chúng phải được thường xuyên tái cứu xét hầu bắt gặp tốt hơn các đòi hỏi của việc phê bình và của tính đa dạng của các Kitô học Tân Ước. Chỉ bằng cách đó, một khoa nhân học triết lý mới được áp dụng đúng đắn một đàng vào cuộc sống cá nhân của Đức Giêsu khi còn tại thế, đàng khác vào vai trò mà Đức Kitô hiển vinh đóng trong cuộc sống Kitô hữu.

1.2.7.3. Quả thật, đúng là được phép bắt đầu một công việc điều tra mang tính lịch sử về Đức Giêsu bằng cách coi Người như một con người, nhưng điều này kéo theo nhiều chuyện: cuộc sống của Người như một người Do-thái; cách thức Người hành động và rao giảng; ý thức Người có về chính Người và cách thức Người đề nghị sứ vụ của Người; cái nhìn Người có trước về cái chết của Người và ý nghĩa Người đã có thể gán cho cái chết này; nguồn gốc đức tin là cuộc Phục sinh và những cách thức giải thích cái chết của Người trong Hội Thánh tiên khởi; công việc xây dựng tiệm tiến một Kitô học và một cứu độ học trong Tân Ước. Nhưng nguy cơ là các yếu tố giáo lý tích lũy lại được theo cách này lệ thuộc quá nhiều vào các giả thuyết phê bình đã được sử dụng ngay từ đầu để đi đến kết cuộc này. Nếu như một kết quả của phương pháp luận này, là chỉ những giả thuyết nào được giới hạn tối đa mới được chấp nhận, thì sẽ xuất hiện một Kitô học với nhiều lỗ hổng. Người ta đặc biệt ghi nhận điều ấy khi các bản văn được coi là “cổ hơn” được nhận lấy như là những bản văn duy nhất đáng tin, trong khi các bản văn mới ra sau này thì bị đánh giá là những suy diễn thứ yếu xuất hiện vào một thời đại muộn màng đã thay đổi hoàn toàn các dữ kiện “nguyên thủy” đến từ “Đức Giêsu lịch sử”. Vào thời đại của chúng, các bản văn này lại không được nhắm, nhờ sự trợ giúp của việc suy ngẫm Cựu Ước thêm nữa và của một suy tư sâu sắc hơn về các lời nói và hành động của Đức Giêsu, làm cho nên rõ ràng hơn một sự hiểu biết Đức Kitô trong đức tin – như đã có ngay từ đầu, trong phần cốt lõi và cách mặc nhiên đó sao? Mối nguy là vai trò của Cựu Ước, mà Đức Giêsu cũng như các môn đệ của Người không bao giờ đặt thành vấn đề, lại quá bị coi thường trong vấn đề này. Kết quả là chính việc  giải thích Tân Ước có thể ra sai lạc.  

1.2.7.4. Quả thật, cũng được phép thiết lập sự liên tục giữa kinh nghiệm của Đức Giêsu và kinh nghiệm của các Kitô hữu. Nhưng cũng phải xác định được, mà không cần liên hệ đến đến các giả thuyết quá nhỏ, cách thức và ý nghĩa theo đó Đức Giêsu, “vị ngôn sứ cánh chung”, đã được đức tin nhận biết là Con Thiên Chúa; cách thức theo đó đức tin và đức cậy trông khởi đầu của các môn đệ của Người đã chuyển biến thành một xác tín vững chắc vào chiến thắng của Người trên cái chết; cách thức theo đó, giữa những xung đột đang gây ảnh hưởng trên các Hội Thánh hội thời các tông đồ, cuối cùng người ta vẫn có thể nhận ra “praxis” đúng đắn mà Đức Kitô muốn – cách thức này là nền tảng cho việc “sequela Đức Giêsu” trung thực; cuối cùng, cách thức theo đó các cách giải thích khác nhau về bản thân và sứ mạng của Người như là trung gian của Thiên Chúa và của loài người, như thấy được trong Tân Ước, rốt cuộc có thể được coi như giới thiệu hình ảnh đúng đắn về Đức Giêsu, đúng như Người đã là, và về  mạc khải đã xảy ra nơi Người và qua Người. Chỉ trong những điều kiện ấy, người ta mới tránh được sự hàm hồ khi đề nghị một Kitô học.

1.2.8. Tiếp cận (với Kitô học) dựa trên một phân tích hiện sinh, qua việc nhấn mạnh đến sự phó thác trọn vẹn của người tín hữu vào Thiên Chúa theo mẫu gương vâng phục của Đức Giêsu, sẽ làm nổi bật liên hệ chặt chẽ giữa chú giải thích Kinh Thánh, nghiên cứu thần học và niềm tin sống động. Nhờ phê bình chặt chẽ các bản văn, phương pháp này thường khám phá ra chức năng các bản văn thể hiện trong các cộng đoàn Kitô hữu mà chúng được soạn ra cho và do đó, cũng là chức năng của chúng trong Giáo Hội hôm nay. Dù vậy, nhiều nhà chú giải và thần học, dù thuộc giáo phái nào, đã cho thấy các giới hạn và các khiếm khuyết của tiếp cận này.

1.2.8.1. Những người chủ trương phê bình triệt để đã giới hạn mục tiêu của các  nghiên cứu của họ về các Tin Mừng vào một nòng cốt rất bé nhỏ, khi chỉ nhìn nhận Đức Giêsu như một nhân vật lịch sử không có tầm quan trọng gì mấy đối với niềm tin. Như thế, Đức Giêsu không còn thật sự ở tại nguồn của Kitô học nữa: Kitô học chỉ phát sinh từ lời rao giảng tiên khởi về Phục sinh, chứ không phải từ cuộc sống của Đức Giêsu như một người Do-thái đã cố gắng hoàn tất Lề Luật (= Tôrah) nơi bản thân, là Lề Luật mà Người đã quy phục. Nhưng nếu Lề Luật này chỉ có phận vụ, qua thất bại của nó, cho thấy rằng con người không thể tự cứu độ mình, phải chăng toàn thể nền thần học của Giao Ước đầu cũng sẽ tan thành mấy khói?

1.2.8.2. Nhằm tuyên bố Đức Kitô là ai và vai trò của Người là gì, ngôn ngữ biểu tượng được sử dụng trong Tân Ước để truyền đạt lời rao giảng tiên khởi về Phục sinh, bị giới hạn vào khuôn khổ của ngôn ngữ “huyền thoại”. Kết quả là quan hệ giữa hai Giao Ước bị giảm thiểu đến mức tối đa. Cuối cùng, lại không phải là cách giải thích “hiện sinh” (hay “duy hiện sinh”) được đề nghị để giúp hiểu ngôn ngữ “huyền thoại” đang gặp nguy cơ là giản lược Kitô học thành một nhân học đó sao?

1.2.8.3. Nếu cuộc Phục sinh của Đức Kitô và việc tôn vinh Người phải được coi như chỉ là những cách giải thích kiểu huyền thoại sứ điệp về Phục sinh, người ta sẽ không hiểu được là tại sao niềm tin Kitô giáo lại đã có thể phát sinh từ cây thập giá. Cũng vậy, nếu Đức Giêsu không phải là Con Thiên Chúa theo nghĩa có một không hai, người ta không thể hiểu tại sao Thiên Chúa nói “lời cuối cùng” của Ngài cho chúng ta nơi Người qua trung gian là cây thập giá. Cuối cùng, nếu, để tránh quan niệm duy lý về các “chứng cứ” giúp xác định đức tin, người ta loại bỏ các “dấu chỉ” trên đó đức tin được đặt lên, thì chuyện này lại không phải là một cách mời người ta đi vào thuyết duy tín (fideism) hay sao?

1.2.8.4. Trong mức độ lối tiếp cận Đức Giêsu như thế chỉ hoàn toàn tập trung vào một quyết định đức tin, lại không phải là người ta đang loại bỏ các phương diện xã hội của cuộc sống con người đó sao? Cũng thế, theo cách này, một thứ “luân lý theo tình yêu” được xác định mơ hồ, hẳn là triệt để đối lập lại với một thứ “luân lý theo lề luật” bao gồm các đòi buộc tích cực về công lý. Do tất cả các lý lẽ này, các đồ đệ của Bultmann đã cố gắng trả Đức Giêsu về lại cho các nguồn gốc của Kitô học, mà không loại trừ  mục đích tổng quát của cách giải thích của ông dựa trên một phân tích “hiện sinh”.  

1.2.9. Những người cổ võ “thần học giải phóng” có lý khi nhắc lại rằng công cuộc cứu độ do Đức Kitô mang đến không chỉ có tính “thiêng liêng”, nghĩa là tách khỏi các công chuyện của trần gian này. Công cuộc cứu độ ấy, quả thật với ân sủng của Thiên Chúa, nhắm giải thoát loài người khỏi thế lực chuyên chế đang áp bức họ trong hoàn cảnh hiện tại. Tuy nhiên, từ một nguyên tắc tổng quát như thế, có thể rút ra những hệ luận đầy mạo hiểm, nhất là nếu giáo lý về ơn cứu chuộc không rõ ràng liên kết với một hệ thống luân lý hoàn toàn hài hòa với các giới luật của Tân Ước.

1.2.9.1. Mặc dù một số người Mác-xít cũng gián tiếp quy chiếu về Tin Mừng của Đức Giêsu để tìm ra hình thái lý tưởng cho cuộc sống xã hội đặt nền trên các quan hệ huynh đệ, họ vẫn giữ nguyên phương pháp của họ là phân tích các sự kiện xã hội khởi đi từ một quan điểm kinh tế và chính trị. Phương pháp này được liên kết với một khoa nhân học triết lý, mà nền tảng lý thuyết thì bao gồm cả thuyết vô thần. Khi được đón nhận không phê phán, để làm cho vị Thiên Chúa của Kinh Thánh trở thành người kiến tạo công cuộc “giải phóng” được quan niệm như vậy, phương pháp nghiên cứu này, cùng với “praxis” kèm theo, dễ rơi vào nguy cơ là làm sai lạc bản chất đích thực của Thiên Chúa, cách giải thích đúng đắn về Đức Kitô, và rốt cuôc là sự hiểu biết về chính con người.

1.2.9.2. Một số nhà “thần học giải phóng” cương quyết cho rằng “Đức Kitô của niềm tin” phải được coi là nguyên lý tối hậu của niềm hy vọng. Tuy nhiên, trong thực tế, người ta lại chỉ xem xét đến “praxis” của “Đức Giêsu lịch sử”, thậm chí còn được ít nhiều như là một “cách đọc”  bản văn có phần làm sai lạc bản văn. Vì lý do đó, “Đức Kitô của niềm tin” chỉ được coi như một cách giải thích “theo ý thức hệ”, hoặc thậm chí một cách “huyền thoại hóa” gương mặt lịch sử của Người. Hơn nữa, do ý niệm về “quyền lực” trong các cộng đoàn Kitô hữu, thời đó đã lệ thuộc đế quốc Rôma và các nhà cầm quyền địa phương, không được phân tích chính xác, chính ý niệm này sẽ gặp nguy cơ là bị giải thích với các sắc thái Mác-xít.

1.2.9.3. Hậu quả là hoạt động của Đức Kitô nhà giải phóng đang được thi thố qua Chúa Thánh Thần trong lòng Hội Thánh không còn được quan tâm đến nữa. Đức Giêsu chỉ còn là một “điển hình”  thuộc quá khứ. “Praxis” của Người phải được cổ võ bằng những phương thế khác phù hợp hơn với thời đại chúng ta và có thể đạt được những hiệu quả lớn lao hơn. Theo hướng này, Kitô học gặp nguy cơ là hoàn  toàn bị giản lược thành nhân học.

1.2.10. Những nghiên cứu trong thần học suy lý về Đức Kitô theo một nguyên tắc – không phải không có lý – là từ chối lệ thuộc các giả thuyết phê bình vốn luôn cần được xét lại. Tuy nhiên, trong tiếp cận này, có nguy hiểm là, vì quá chú tâm làm một tổng hợp, làm mờ nhạt sự đa dạng của các Kitô học của Tân Ước, trong khi sự đa dạng này rất được đề cao. Hoặc thậm chí mối nguy là các yếu tố trong Cựu Ước mang tính chuẩn bị lại bị bỏ qua hay bị giảm thiều đến mức làm cho Tân Ước bị mất các gốc rễ của nó. Điều đáng ao ước là các nghiên cứu chú giải tìm ra được một vị trí chính xác hơn và rõ ràng hơn trong việc nghiên cứu về Mạc khải, việc nghiên cứu này ngay từ đầu và xuyên qua toàn quá trình phát triển của nó, vẫn hướng về mục tiêu tối hậu là sự toàn vẹn của mầu nhiệm Chúa Kitô. Ở đây, còn có một đường lối “sư phạm” của Thiên Chúa, theo một nghĩa khác với nghĩa của thánh Phaolô (Gl 3,24), đó là dẫn đưa nhân loại đến với Chúa Kitô. 

1.2.11. Mọi nỗ lực kết hợp một Kitô học “từ bên dưới” với một Kitô học “từ bên trên” đều đang đi đúng hướng. Tuy nhiên, các nỗ lực này còn để trong tình trạng lơ lửng một số vấn đề đang cần một câu trả lời.

1.2.11.1. Trong lãnh vực các nghiên cứu chú giải, nhiều vấn đề còn phải được giải quyết, đặc biệt các vấn đề phê bình các Phúc âm: cách thức các lời nói của Đức Giêsu đã đi đến chỗ được diễn tả ra trong đó; tính cách ít nhiều “lịch sử” (theo nghĩa hẹp) của các trình thuật liên hệ đến Đức Giêsu; thời gian và tác giả của từng sách; các thể thức và các đợt soạn thảo ra các sách; và quá trình phát triển Kitô học. Lãnh vực nghiên cứu này vẫn còn đang mở ra cho các nghiên cứu; lãnh vực này không những hợp pháp mà còn cần thiết và có thể sinh hoa kết quả cho chính Kitô học hệ thống.

1.2.11.2. Để nắm bắt được tầm quan trọng to lớn và duy nhất mà Đức Kitô có được trong dòng lịch sử của thế giới, người ta không thể bỏ qua việc nghiên cứu chỗ đứng của Kinh Thánh trong quá trình phát triển của các nền văn hóa. Bởi vì Kinh Thánh đi vào lịch sử vào một thời điểm tương đối trễ, người ta không được coi thường cách thức theo đó một số các yếu tố của các nền văn hóa được đón nhận vào trong các sách, để được sử dụng nhằm phục vụ mạc khải. Tính cách Do-thái của Đức Giêsu, được tháp nhập vào trong các nền văn hóa khác nhau, có thể nói là yếu tố truyền tải toàn nhân tính của Người. Tiếp cận Đức Giêsu cách này, đặc biệt được thúc đẩy bởi các khám phá khảo cổ và nhân chủng của hai thế kỷ vừa qua, đã không được khai thác bao nhiêu. Nhưng để hiểu được là làm thế nào mà Đức Giêsu lại là Đấng cứu độ loài người của mọi thời, ta phải xét đến sự tiền hữu của Người, bằng cách nhận ra Người là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa và là Lời của Thiên Chúa (xem Lời tựa của Tin Mừng Gioan), cũng như là tác giả và kiểu mẫu của công cuộc tạo dựng và Đấng điều hành có quyền thế toàn dòng lưu chuyển của lịch sử nhân loại. 

1.2.11.3. Hơn nữa, để hiểu được là làm thế nào Đức Kitô được tôn vinh vẫn tiếp tục hoạt động hữu hiệu trong thế giới này, cần phải thực hiện những nghiên cứu Kinh Thánh thật kỹ càng về các quan hệ giữa Hội Thánh, là Thân Thể Người được Thánh Thần hướng dẫn, và các xã hội trong đó Hội Thánh phát triển. Khi cứu xét như thế, Giáo Hội học trở thành một phương diện cốt yếu của Kitô học, nhất là vào lúc Giáo Hội học đang bị những nghiên cứu của các nhà xã hội học đối chất.

Chương 3

LÀM THẾ NÀO TRÁNH ĐƯỢC CÁC NGUY CƠ, CÁC GIỚI HẠN VÀ CÁC HÀM HỒ?

    Các tiếp cận nói trên cho thấy rằng, để tìm ra các phương thuốc chữa các nguy cơ kia, mà chỉ nêu ra một ít công thức sắc bén đề nghị “lòng tín thành” vĩnh viễn hoặc soạn thảo ra các khảo luận có tính hệ thống có thể nắm được tất cả các vấn đề ấy và giải quyết  tức khắc, thì không đủ.

1.3.1. Tình liên đới trong đức tin với toàn thể truyền thống Giáo Hội bảo các nhà thần học là hãy năng chạy đến với truyền thống nền tảng của thời các tông đồ (hiểu nghĩa rộng là ôm lấy toàn bộ Tân Ước). Tuy nhiên, tình lên đới này không hề miễn chuẩn  cho ta khỏi phải đi vào nghiên cứu về Kinh Thánh như một toàn bộ: về vị trí Kinh Thánh có tại Israel, về nhánh mới được ghép vào Kinh Thánh qua Đức Giêsu với các tác phẩm Tân Ước cho đến khi kết thúc “thư quy”, nghĩa là mô phạm cho đức tin và đời sống thực tế. Về điểm cuối cùng này, mặc dù có một sự bất đồng ý kiến căn bản giữa người Do-thái và người Kitô hữu, nhưng nguyên tắc về tính chính lục đã được thiết lập vững chắc cho cả hai bên.

1.3.2. Sự phát triển về văn chương của chính Kinh thánh đến một mức nào đó là một phản ánh món quà của Thiên Chúa vì Ngài đã mang đến cho loài người mạc khải và ơn cứu độ của Ngài. Đối với các Kitô hữu, đỉnh cao của món quà này là Con Thiên Chúa, là người thật “được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria”. Như thế, tính thống nhất trong Kinh Thánh được nhận ra nơi các lời hứa đã được các tổ phụ đón nhận, được phổ biến nhờ các ngôn sứ, rồi nhờ việc chờ đợi Nước Thiên Chúa và một Đấng Mêsia; nhưng các lời hứa và sự chờ đợi này đã được hoàn tất trong Đức Giêsu, là Đấng Mêsia và là Con Thiên Chúa. Vậy, việc sử dụng Kinh Thánh trong Kitô học được hướng dẫn bởi nguyên tắc toàn diện tính mà các Giáo Phụ và các nhà thần học thời Trung Cổ không bao giờ coi thường, cho dù các ngài đã đọc và giải thích các bản văn Kinh Thánh theo các phương pháp phù hợp với nền văn hóa của thời đại các ngài. Quả thật, các phương pháp mà nền văn hóa thời đại chúng ta cung cấp thì khác; nhưng chiều hướng người ta phải theo mà sử dụng các phương pháp này thì vẫn thế.  

1.3.3. Để cho các độc giả là tín hữu có thể khám phá ra Kitô học toàn diện này trong Kinh Thánh, thì ước ao là các nghiên cứu Kinh Thánh được thực hiện với sự giúp đỡ của các phương pháp chú giải của thời đại chúng ta và các nghiên cứu này chuyên sâu trong tìm tòi và tra cứu hơn là tình trạng hiện nay. Thật vậy, nhiều vấn đề vẫn còn mù mờ về quá trình soạn thảo các sách thánh, để rồi cuối cùng chúng phát xuất từ các  tác giả được linh hứng. Kết quả là người nào muốn miễn chuẩn cho mình việc nghiên cứu các vấn đề loại này, hẳn sẽ chỉ tiếp cận Kinh Thánh một cách hời hợt; vì nhận định sai lầm rằng các họ đọc Kinh Thánh là “thần học”, hẳn là họ sẽ đi vào một nẻo đường sai lệch. Những giải pháp nào quá đơn giản thì không thể nào cung cấp được nền tảng vững chắc cần thiết cho các nghiên cứu thần học Kinh Thánh, cho dù dấn thân vào với trọn đức tin. Nhưng Uỷ Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng cho rằng, nếu người ta bỏ đi những chi tiết ít quan trọng, các nghiên cứu ấy đã đạt đủ mức tiến triển để bất cứ người tín hữu nào cũng có thể thấy các kết quả của các nghiên cứu này là một nền tảng vững chắc cho việc học hỏi về Đức Giêsu Kitô.

su-diep-duc-thanh-cha-gui-cac-tu-hoi-doi
Sứ điệp Đức Thánh Cha gửi các tu hội đời

ĐTC kêu gọi các thành viên các tu hội đời hãy mang vào trần thế, vào những hoàn cảnh mình sinh sống, lời đã lắng nghe từ Thiên Chúa. Ngài đưa ra lời mọi gọi trên đây trong sứ điệp gửi các tham dự Hội nghị các tu hội đời Italia, nhóm tại Học Viện Augustinianum ở Roma trong hai ngày 28 và 29-10-2017 nhân dịp kỷ niệm 70 năm Tông hiến ”Provida Mater Ecclesiae” (Mẹ quan phòng của Giáo Hội), do ĐGH Piô 12 ban hành về các tu hội đời.

su-diep-cua-hoi-dong-toa-thanh-ve-doi-thoai-lien-ton-gui-cac-tin-do-an-giao-nhan-le-deepavali-nam-2017
Sứ điệp của Hội đồng Toà Thánh về Đối thoại Liên tôn gửi các tín đồ Ấn giáo nhân Lễ Deepavali năm 2017

Nhân dịp Lễ Deepavali hằng năm của Ấn giáo, còn gọi là Diwali (Lễ hội Ánh sáng) – năm nay được cử hành vào ngày 18 hay 19 tháng Mười 2017 tại nhiều vùng của Ấn Độ –, Hội đồng Toà Thánh về Đối thoại Liên tôn đã gửi sứ điệp chúc mừng các cộng đoàn tín đồ Ấn giáo trên toàn thế giới. Chủ đề của sứ điệp năm nay là “Kitô hữu và tín đồ Ấn giáo: Vượt xa hơn lòng bao dung”. Lễ này đánh dấu ngày khởi đầu năm mới trong lịch Ấn giáo.

tom-tat-su-diep-cua-duc-phanxico-ve-ngay-the-gioi-nguoi-ngheo
Tóm tắt sứ điệp của Đức Phanxicô về Ngày Thế giới Người nghèo

Điểm khởi đầu của sứ điệp mang tính thần học: Chúa yêu chúng ta đầu tiên. Chúng ta tất cả đều được Chúa yêu thương. Vì thế, để đáp trả tiếng gọi đầu tiên này, đến lượt mình, chúng ta phải yêu thương lại. Một tình yêu cụ thể. Đức tin đòi hỏi phải có hành động. Phục vụ những người nghèo nhất là biểu hiệu của người tín hữu kitô. Chính vì vậy mà từ rất lâu, tín hữu kitô được biết qua những công việc này.

tu-sac-moi-lap-hoc-vien-gioan-phaolo-2-hon-nhan-gia-dinh
Tự sắc mới lập Học Viện Gioan Phaolô 2 hôn nhân gia đình

Tự sắc mới mang tựa đề ”Summa Familiae cura” (Săn sóc tối đa cho gia đình), mang chữ ký của ĐTC ngày 8-9 vừa qua và bắt đầu có hiệu lực từ ngày đăng trên báo ”Quan sát viên Roma” tức là từ ngày hôm qua 19-9-2017. Học viện mới thay thế cho Giáo Hoàng Học Viện Gioan Phaolô 2 về Hôn nhân và gia đình được lập và hoạt động cạnh Giáo Hoàng Đại Học Laterano ở Roma.

duc-thanh-cha-phanxico-ban-hanh-tu-sac-ve-van-de-dich-cac-ban-van-phung-vu
Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành Tự sắc về vấn đề dịch các bản văn phụng vụ

Hôm thứ Bảy 9 tháng Chín 2017, Phòng Báo chí Toà Thánh đã công bố một Tông thư dưới hình thức Tự sắc của Đức Thánh Cha Phanxicô, sẽ bắt đầu áp dụng vào ngày 1 tháng Mười sắp tới. “Tông thư ban hành theo dạng Tự sắc Magnum Principium qua đó một số điểm của Điều 838 trong Bộ Giáo luật được sửa đổi” được Đức Thánh Cha ký ngày 03-09-2017, nhằm sửa đổi Điều 838 của Bộ Giáo luật về vấn đề dịch các bản văn phụng vụ sang các ngôn ngữ bản địa.

su-diep-video-cua-duc-thanh-cha-gui-nhan-dan-colombia
Sứ điệp Video của Đức Thánh Cha gửi nhân dân Colombia

ĐTC kêu gọi nhân dân Colombia trở thành những người xây dựng hòa bình và hòa giải, đi bước đầu trong việc bắc những nhịp cầu và kiến tạo tình huynh đệ. Lời kêu gọi trên đây được ĐTC đưa ra trong sứ điệp Video gửi toàn dân Colombia phổ biến hôm 4-9-2017... ”Ước gì cuộc viếng thăm này là một vòng tay ôm huynh đệ đối với mỗi người trong anh chị em và họ cảm thấy niềm an ủi và dịu dàng của Chúa”.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.