kinhthanh

TRANG CHỦ li-category KHẢO CỔ li-category Khảo cổ và Kinh Thánh (3) - Các công việc và phương pháp


    Ba công việc chính yếu của ngành khảo cổ là đưa ra ánh sáng các vết tích (trước đây công việc này thuộc về ngành bảo tàng viện, hoặc tệ hơn nữa, tùy thuộc sự ngẫu hứng của những người sưu tập), ghi giữ (và công bố) điều đã khám phá cùng với bối cảnh của nó (mới đây việc này vẫn còn bị sao nhãng), cuối cùng là việc giải thích, chỉ việc này mới cho phép tái lập môi trường kinh tế xã hội, chính trị, văn hóa và vật chất được làm chứng bởi các đồ vật được khai quật. Việc phục chế và bảo toàn các vết tích đáng chú ý nhất đã bị đe dọa bởi các tàn phá của thời gian hoặc con người cũng ngày càng thuộc về các nhà khảo cổ. Bên cạnh ngành khảo cổ “bề mặt”, đặc biệt nhắm đến các quần thể kiến trúc không bị chôn vùi, một phần lớn hơn hoạt động của ngành khảo cổ được dành cho việc khai quật.

 

A.- Khai quật một địa điểm

 
    a) Các tells [1]
 
    Cũng như toàn thể ngành khảo cổ tại Tiểu Á trước đây, ngành khảo cổ bên Paléttina dành phần lớn thì giờ mà thăm dò nhiều tells trong xứ. Một tell (từ Ả-rập) là một quả đồi nhân tạo, theo hình nón cụt, cao khoảng 15-20 m; hình dạng đặc biệt  này của một tell (tùy theo xứ, có khi người ta gọi là hüyük hoặc một tepe bên Thổ-nhĩ-kỳ, một kõm bên Ai-cập), là do lịch sử việc chiếm ngụ của loài người. Lúc đầu, địa điểm (một ụ cao tự nhiên hoặc một đám đất bằng kề bên một con đường thương mại và/hoặc gần kề nước) được một cộng đoàn chọn để xây dựng tại đó các ngôi nhà bằng gạch sống. Công trình kiến trúc này mong manh nên để bảo quản thì hầu như hàng năm phải làm lại mái, trát lại tường, và như thế cần một lượng lớn đất sét mà khi đã bỏ đi, thì không được dọn sạch. Dần dà, mặt đất ngổn ngang ấy lên cao dần. Đôi khi (nhưng họa hiếm hơn người ta tưởng), nơi này bị bỏ hoang do một trận dịch, một trận động đất, một trận hỏa hoạn hoặc chiến tranh. Nhiều năm, thậm chí nhiều thế kỷ sau, một cộng đoàn khác lại có thể đến sống tại đó, thường họ san bằng các tàn tích của thành phố trước và tiến trình “lên cao” lại bắt đầu lại. Như thế, các mảnh đất chiếm ngụ tiếp nối nhau trên tell tương ứng với các tầng lớp, như những lớp khác nhau của một khối bột từng lớp. Như vậy, tell là như việc chất chồng nhiều “thành” kế tiếp nhau, hoặc đúng hơn, việc chất chồng các mảnh đất của họ (đôi khi tới ba mươi lớp), làm chứng về chính lịch sử của địa điểm. Khi đào bới tell, các lớp trên cao, thường người ta chạm tới đầu tiên, cũng là những lớp mới hơn. Mỗi tầng được đánh số, tương ứng với một giai đọan xây dựng nhất định. Các thay đổi về kiến trúc bên trong cùng một giai đoạn được diễn tả bằng cách chia nhỏ thêm tầng ra (vd. Meggido V A – IV B; v.v.).

 
    b) Chọn một tell 
    Các nhà khảo cổ chọn đào bới tell này thay vì tell kia tùy theo các tiêu chuẩn khác nhau: có những gợi ý về nơi chốn này trong các tư liệu viết cổ, có những khám phá ở bề mặt, có suy đoán rằng địa điểm này là vị trí của một thành nổi tiếng…

 
    c) Kỹ thuật đào bới 
    Một khi đã được nhượng quyền, công việc có thể bắt đầu. Ngày hôm nay, chỉ có phương pháp “khảo cứu phân tầng” (stratigraphie) là được sử dụng, bởi vì đây là phương pháp có được tối đa đảm bảo khoa học. Người ta thường bắt đầu bằng những đo đạc trắc địa học và bằng việc phân đia điểm thành những ô vuông nhằm định hướng cách đúng đắn tối đa các trục lớn của công trường cũng như để dùng làm “lưới định vị”. Mỗi “ô vuông” được đào rất có phương pháp và tỉ mỉ. Bất cứ di tích nào xuất hiện, dù là công trình nghệ thuật, bức tường, mặt đất hoặc đồ vật, dù nhỏ đến mấy, vẫn được tỉ mỉ ghi lên trên bản đồ, được chụp hình, vẽ ra và mô tả; khung cảnh của cuộc khám phá ra vật đó cũng được ghi lại kỹ lưỡng. Các vật được dán nhãn  để sau này phân tích thêm. Khám phá ra đồ sức có tầm quan trọng chủ yếu vì giúp thiết lập ra các chuỗi niên đại; mảnh sàng được thu lượm hằng ngày thành từng giỏ, mỗi giỏ được ghi tên theo tầng nó xuất hiện. Người ta thường dành thời gian cuối ngày mà lau chùi, phân loại, kiểm kê, thậm chí đã bắt đầu minh giải các mẩu vụn này. Đôi khi, sau khi đã lựa lọc các mảnh vỡ, người ta đã có thể tái tạo hoàn toàn hoặc một phần một số các cái bình cái vại. Khi xuất hiện những vật nhỏ có giá trị (như các đồ trang sức hình bọ hung, giúp chủ yếu vào việc xác định niên đại), cần phải rây tất cả khối đất đã đào lên để không để vuột mất thứ gì cả. Có khi người ta cũng tìm ra các ngôi mộ, và các  ngôi mộ này có quyền được để ý đặc biệt.

    Ta thấy đó, đây là một công việc kéo dài và kiên nhẫn, cần đến sự góp phần của khá nhiều nhà chuyên môn: các nhà khảo cổ, các họa sĩ, các chuyên viên vẽ địa hình, các kiến trúc sư, các nhiếp ảnh viên, đó là chưa kể đến khối hậu cần (nhà bếp, nhà cung cấp lương thực, các săn sóc viên) cần thiết cho đời sống – thường thiếu tiện nghi – của ê-kíp. Công việc này cũng vất vả, đôi khi chán ngắt, mà lúc nào cũng nặng nhọc (một ngày thường bắt đầu vào lúc 4g sáng), chẳng có gì như là các kỳ công đầy hào hứng của một Indiana Jones[2]! Sau khi đã đào bới trọn vẹn một tầng, người ta thu dọn rồi hạ đổ các bức tường ngăn cách ô vuông này với ô vuông khác: khi phá đổ như thế, có khi người ta lại tìm ra được những dấu chỉ khác về lịch sử của thành; thế rồi người ta chuyển sang đào tầng thấp hơn, vẫn theo những nguyên tắc như thế. Người ta không bao giờ đào bới hoàn toàn một vị trí địa hình. Trước tiên là bởi vì quá tốn kém và quá lâu dài; kế đó bởi vì  không phải mọi tầng đều đáng được chú ý như nhau; cuối cùng và nhất là bởi vì bất cứ cuộc đào bới nào cũng là tàn phá.

    Để khai thác một tầng, các nhà khảo cổ nhất thiết phải phá hủy những gì che phủ nó. Các phần đất đã được đào bới sẽ biến mất không sao cứu chữa được. Do đó, ngày hôm nay, người ta để lại những mảnh lớn các tầng còn nguyên cho các thế hệ sẽ đến, vì biết đâu họ sẽ có những phương tiện thăm dò khác.

 
    d) Công bố 
    Sau việc khai quật, bắt đầu công việc chính yếu là công bố; quả thật không có gì quý giá cho bằng bản tường trình các cuộc khai quật, vì chỉ bản này mới cho phép các kết quả của cuộc khai quật được minh giải và làm gia tăng sự hiểu biết. Đáng tiếc là việc công bố này thường bị chậm trễ và vấp phải những khó khăn to lớn về tài chánh. Nhưng bản công bố kể chi tiết toàn bộ các công việc, các vật tìm được, các tầng kiến trúc khám phá ra, niên đại đồ gốm của địa điểm. Các bản sao chụp khác nhau nhất và phong phú nhất làm cho bản mô tả viết được đầy đủ. Các bảng tổng hợp và nhiều bảng mục lục làm gia tăng đáng kể ích lợi của công trình đối với thế giới khoa học. Khi việc công bố rốt ráo ấy không được thực hiện ngay, một hoặc nhiều bản tường tình làm trước, cô đọng hơn và cung cấp phần chính yếu các kết quả, tạm thời cũng có thể được công bố trong các tạp chí chuyên môn.

 

B.- Xác định thời gian

    Một vấn đề quan trọng là xác định thời gian của các khám phá. Ta phải phân biệt ra niên đại tương đối và niên đại tuyệt đối.

 
    a) Niên đại tương đối 
    Niên đại tương đối hệ tại việc so sánh với nhau các giả tượng (nhất là về ngành gốm sứ) thuộc các tầng khác nhau của cùng một tell, rồi của nhiều tells khác nhau thuộc vùng một vùng “khảo cổ”, và cuối cùng của những vùng khác nhau (khảo cứu phân tầng so sánh).


    Nhờ đó người ta thấy được, do sự chuyển biến của các hình thái và các kỹ thuật, phải chăng tầng X của địa điểm A có thể được coi như đồng thời, có sau hoặc có trước tầng Y của tell khác là B. Tổng hợp tất cả các so sánh có thể làm được lại với nhau, người ta phác ra được một bảng niên đại tương đối của (các) vùng được cứu xét (đôi khi từ tiền sử đến thời by-dăng-tinh).

 
    b) Niên đại tuyệt đối 
    Niên đại tuyệt đối được diễn tả ra bằng các niên đại chính xác, có đánh số, liên hệ đến kỷ nguyên Kitô giáo. Xác định được niên đại này luôn luôn là chuyện khó khăn, nhất là cho những thời kỳ rất xa xưa. Có hai phương thế chính yếu để đạt tới đó: vận dụng niên đại được xác định bởi các sử gia và các phương pháp do các khoa học gọi là chính xác đề nghị. Các vật có mang những bản văn khắc (các đồng bạc, các vật trang sức, các mảnh sành, các bia đá, các thủ bản, v.v.) thậm chí có ghi những niên đại (theo các hệ thống lịch khác nhau được dùng vào thời Cổ Đại), các bức chân dung vua chúa hoặc các kiểu vẽ tranh rất tiêu biểu của một thời đại, có thể được xác định về lịch sử. Khi tin vào các niên đại tuyệt đối đã được các sử gia xây dựng lên (do các phương pháp khác nhau; các niên đại này cũng còn gây nhiều tranh cãi; người ta chấp nhận chung chung là nếu cho đến khoảng năm 1200 tr CG, các niên đại này đáng tin với vài năm sai biệt, thì cái lề của sự thiếu chính xác là vào khoảng một thế kỷ nếu ta đi lên đến tận năm 2000 tr CG!), thì ta có thể xác định niên đại cách tuyệt đối cho việc chế tạo ra các vật ấy, khởi đi từ tầng mà nó phát xuất ra. Nhưng phải rất cẩn thận, bởi vì một vật được chế tạo ra vào một thời đại nào đó có thể được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác (đây là trường hợp những vật quý giá, nhưng không đúng mấy cho đồ gốm) và còn được sử dụng lâu năm lâu tháng sau đó; vả lại, có những trường hợp lạ lùng là các sản phẩm “sai thời gian”: chẳng hạn các vật trang sức hình bọ hung của Thoutmosis III đã được người ta tiếp tục chế tạo ra nhiều thế kỷ sau khi vị pharaô này băng hà! Còn về các phương pháp của các khoa học gọi là chính xác, nếu chúng có nhiều (niên đại thụ mộc, khoa học về phấn hoa, cácbon-14; v.v.), việc sử dụng chúng vẫn còn là chuyện tế nhị, tốn kém và làm sinh ra sự hoài nghi của nhiều nhà khảo cổ. Nhất là việc xác định thời gian của các chất hữu cơ bằng phương pháp cácbon-14 (nghĩa là việc phân tích chất đồng vị cácbon 14 neutron – thay vì 12 – trong nguyên tử; khối lượng này giảm thiểu dần sau khi loài thực vật hoặc thú vật chết đi: còn lại một nửa sau 5.500 năm, còn lại một phần tư sau 11.000 năm, còn lại một phần tám sau 16.500 năm, v.v.) không phải bao giờ cũng cho những kết quả mong muốn. Đó là không kể đến chuyện có một số nhà khoa học hôm nay phản đối giá trị của phương pháp này (sự giảm thiểu của cácbon-14 thật ra không đều), phương pháp này phải chấp nhận một cái lề sai biệt là 5 phần trăm; như thế khi xác định thời gian vào năm 1000 tr CG, người ta phải chấp nhận một cái lề sai biệt là trên dưới 150 năm (vậy niên đại “thật” là giữa 1150 và 850 tr CG), điều này khiến người ta thấy là phương pháp này cũng không hoàn toàn hữu ích nữa.

    Giữa niên đại tương đối và niên đại tuyệt đối, lý tưởng dĩ nhiên là thiết lập những tương ứng, là chuyển niên đại thứ nhất thành niên đại thứ hai. Để đến đó được, thật không dễ; đúng ra ta buộc phải làm việc khi thì với niên đại này, khi thì với niên đại kia, cách độc lập, ad usum operandi.

--------------------------------------------------------------

 

[1] Gò phế tích.

[2] Tiến sĩ Henry "Indiana" Jones, Jr. (cũng được gọi là Indy), là một nhân vật hư cấu, làm giáo sư, nhà khảo cổ, và phiêu lưu. Đây là nh6an vật chính là cuộin phim phiêu lưu Raiders of the Lost Ark năm 1981 (sau này được đặt tên lại là Indiana Jones and the Raiders of the Lost Ark) (x. Wikipedia).

nhung-hinh-anh-co-nhat-ve-chua-giesu
Những hình ảnh cổ nhất về Chúa Giêsu

Từ cổ thành Rôma của Ý đến núi Sinai, nơi đặt tu viện gần 2 thiên niên kỷ ở Ai Cập, những hình ảnh về Kitô giáo đời đầu vẫn được lưu giữ bất chấp thời gian, cung cấp kiến thức quý báu về thuở đầu của đạo Kitô

trien-lam-lich-su-o-paris-“kito-giao-o-dong-phuong-hai-ngan-nam-lich-su”
Triển lãm lịch sử ở Paris: “Kitô giáo ở Đông phương. Hai ngàn năm lịch sử”

Nhân kỷ niệm 30 năm thành lập, Viện Thế giới Ả Rập ở Paris hợp tác với Hiệp hội nhân đạo Kitô giáo L’Œuvre d'Orient, tổ chức cuộc triển lãm lịch sử “Kitô giáo ở Đông phương. Hai ngàn năm lịch sử” từ ngày 26 tháng Chín 2017 đến ngày 14 tháng Giêng 2018. Đây là triển lãm tổng quát đầu tiên về đề tài này ở Châu Âu. Triển lãm diễn ra tại Viện Thế giới Ả Rập, đã được Tổng thống Liban Michel Aoun -đang có chuyến viếng thăm Paris trong ba ngày-, và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cùng khai trương.

lich-su-phat-trien-tranh-kinh-nha-tho-stained-glass
Lịch sử phát triển tranh kính nhà thờ (Stained Glass)

Nghệ thuật làm tranh kính màu mãi mãi vẫn là sản phẩm của bàn tay khéo léo, là biểu thị của tinh thần, cảm hứng sáng tạo của con người và có thể nói đó là lĩnh vực nghệ thuật duy nhất đến nay vẫn không chịu tuân theo sự chi phối của máy móc, cho dù chúng ta đang ở giữa thời đại của công nghệ, của tự động hoá và tin học.

nghien-cuu-ve-tang-da-phong-be-mo-phan-duc-giesu
Nghiên cứu về tảng đá phong bế mộ phần Đức Giêsu

“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã bị lăn khỏi mộ”, theo Phúc âm Gioan 20:1. Từ đoạn viết này, người đời sau bắt đầu mường tượng và đặt câu hỏi tảng đá nào đã được dùng để chặn bên ngoài nấm mồ của Chúa Giêsu ? Ắt hẳn ai nấy đều cho rằng phải là một tảng đá hình tròn để dễ lăn vào buổi sáng của ngày Phục Sinh.

trien-lam-cua-giao-hoi-han-quoc-tai-vatican
Triển lãm của Giáo hội Hàn Quốc tại Vatican

Vào đầu tháng Chín 2017, Giáo hội Hàn Quốc đã khai trương một triển lãm tại Vatican để giới thiệu lịch sử 230 năm của Giáo hội Công giáo trên bán đảo Triều Tiên, nêu bật đức tin của các vị tử đạo Hàn Quốc và quảng bá thông điệp hoà bình.

trien-lam-tranh-danh-hoa-raphael-o-thanh-pho-ho-chi-minh
Triển lãm tranh danh hoạ Raphael ở Thành phố Hồ Chí Minh

Đức Mẹ đưa tay ẵm giữ Chúa Hài Đồng, còn Hài đồng Giêsu thì đang ôm con chiên trắng. Con chiên là biểu tượng của Chúa - hy sinh để cứu nhân loại khỏi vòng tội lỗi...”; Đây là những lời giải thích cho bức tranh “Thánh Gia và Con Chiên” treo trên tường “Nhà Trưng bày Triển lãm - Bảo tàng TP.HCM”. Bức tranh “Thánh Gia và Con Chiên” là một trong 27 tác phẩm tuyệt đẹp của danh họa Raphael được trưng bày trong dịp này.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.