kinhthanh

TRANG CHỦ li-category GIẢI ĐÁP THẮC MẮC li-category Thánh Giuse trong Tân Ước


Xin được hỏi một thắc mắc từ lâu đến nay là trong Kinh Thánh ít đề cập đến Thánh Giuse là cha nuôi của Chúa Giêsu, và Thánh Giuse qua đời khi nào cũng chẳng được nhắc đến mà chỉ thấy nhắc đến Đức Trinh Nữ Maria nhiều hơn mà thôi, có lẽ Kinh Thánh ghi chép thiếu? (Le Tommy).

 

 

Thưa anh,

 

Trước hết, nói chung về Kinh Thánh, chúng ta chấp nhận một nguyên tắc hướng dẫn: Tác giả đã viết điều gì ra, là bởi vì ngài thấy điều ấy cần cho việc cứu rỗi chúng ta; còn điều gì ngài đã không viết ra, là bởi vì điều ấy không cần cho việc cứu rỗi. Như vậy, Kinh Thánh được viết không phải là để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của chúng ta, càng không để thỏa mãn tính tò mò của chúng ta. Chẳng hạn, không cần nói đến thánh Giuse, ngay về Đức Maria, không có một đoạn Kinh Thánh nào nói về cái chết của Mẹ cả. Tuy nhiên, nếu chúng ta cứ so sánh thì thấy các đoạn Tân Ước liên hệ đến thánh Giuse không ít hơn số những đoạn nói về Đức Mẹ đâu. Với lại một số đoạn ngắn ngủi về thánh nhân cũng phác ra khá rõ dung mạo nhân bản và thiêng liêng của ngài với những biến cố lớn trong đời ngài:

- Ngài thuộc dòng dõi vua Đavít (Mt 1,1-16.20; Lc 1,27; 2,4; 3,23-31);

- Ngài cư ngụ tại làng Nadarét, miền Galilê (Lc 1,26);

- Ngài làm nghề thợ mộc (Mt 13,55; Mc 6,3): lúc đó nghề này là một nghề có thể làm mọi thứ việc tay chân.

- Ngài đã thành hôn với một thiếu nữ Nadarét tên là Maria (Lc 1,27); 

- Vào dịp này, khi biết Maria đã có thai, ngài đã có những suy nghĩ đắn đo chín chắn và chọn lựa đúng đắn dưới sự hướng dẫn của Thiên Chúa, vì ngài là “người công chính” (Mt 1,18-25). Bản văn cũng nêu rõ một nét dung mạo thiêng liêng khác của ngài: khi biết rõ ý của Thiên Chúa, ngài đã trỗi dậy (“bật dậy”) thực hiện ngay (c. 24).

- Vì có chiếu chỉ hoàng đế Augúttô ra lệnh mọi người dân phải về nguyên quán để kiểm tra, thánh Giuse là gốc Bêlem (miền Nam), nhưng lúc ấy đang ở miền Bắc, nên ngài đã đưa Đức Maria về miền Nam. Chính trong tình cảnh đó, Đức Maria đã sinh Đức Giêsu (Lc 2,1-7). Chúng ta đoán được những vất vả và những nỗi xót xa của ngài, trong tư cách chủ gia đình.

- Sau khi Đức Giêsu chào đời được 8 ngày, ngài đã làm lễ cắt bì và đặt tên cho con (Lc 2,21);

- Sau khi Đức Maria sinh con 40 ngày, ngài đã đưa cả hai mẹ con  lên Giêrusalem để làm lễ thanh tẩy cho Đức Maria và dâng con trẻ Giêsu cho Thiên Chúa (Lc 2,22-24). Tại đây, ngài đã gặp cụ ông Simêon và cụ bà Anna (Lc 2,22-38).

- Ngài cũng đã gặp các nhà chiêm tinh từ phương Đông đến bái lạy Hài Nhi Giêsu (Mt 2,1-15);

- Sau biến cố này, ngài đã phải đưa gia đình di tản sang Ai Cập để trốn thoát vua Hêrôđê (Mt 2,13-14). Một câu nói ngắn ngủi của vị sứ thần báo mộng và thánh Mátthêu lặp lại đủ chứng tỏ ngài được giao nhiệm vụ đứng đầu gia đình và ngài đã can đảm chu toàn: “Đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập” (Mt 2,13.14). Ngài đã “bật dậy” thi hành ngay (c. 14). Chúng ta có thể mường tượng ra bao tính toán suy nghĩ lo lắng cũng như những vất vả của ngài.

- Khi được sứ thần báo mộng trở về quê hương, ngài đã phải đánh giá tình hình chính trị xã hội, và cuối cùng đã quyết định về cư ngụ tại làng Nadarét, miền Galilê, để tránh vua Áckhêlaô rất tàn ác, vừa lên ngôi thay cha là Hêrôđê cai trị miền Giuđê (Mt 2,19-23). Cũng vẫn một nét tinh thần: “bật dậy” thi hành ngay (c. 21).

- Chúng ta được biết đây là một gia đình thánh thiện, vì hàng năm đều đi hành hương Giêrusalem (Lc 2,41). Và trong cuộc hành hương khi Giêsu được 12 tuổi, đã xảy ra biến cố làm thánh Giuse và Mẹ Maria vất vả lo lắng suốt 3 ngày: Cậu Giêsu đã tự ý ở lại Giêrusalem mà không xin phép! (Lc 2,45-50). Thánh Giuse thì không nói gì, nhưng Đức Maria đã thốt ra câu nói cho hiểu tâm trạng của cả hai đấng trong mấy ngày qua.

- Ngài luôn được con mình vâng phục (Lc 2,51).


Truyền thống phỏng đoán rằng khi Đức Giêsu lên đường đi thi hành sứ vụ thì thánh Giuse đã qua đời.


Chừng đó nét hẳn cũng giúp chúng ta thêm xác tín về lý do khiến vào ngày 08/12/1870, Đức giáo hoàng Piô IX đã tuyên phong thánh cả Giuse là Quan thầy Hội thánh, và vào ngày 01/5/1955, Đức Piô XII đã tuyên phong ngài là Bổn mạng và Gương mẫu của giới thợ thuyền, và vào ngày 15-8-1989, Đức Gioan-Phaolô II đã ban Tông huấn Đấng gìn giữ Đấng Cứu Thế để nói về thánh cả.

 

Hy vọng cũng đã trả lời phần nào câu hỏi của anh.

 

Thân ái.

Lm PX Phan Long, ofm

ai-da-chia-kinh-thanh-thanh-chuong-va-cau
Ai đã chia Kinh Thánh thành chương và câu

Kinh Thánh là cuốn sách được biết đến nhiều nhất trên thế giới, được hàng tỷ người đọc trong suốt dòng lịch sử và vươn xa đến mọi chân trời góc biển.Đây cũng là cuốn sách số 1 trong những sách bán chạy nhất (best seller), với hơn 5 tỷ ấn bản được bán và phân phối. Đây là cuốn sách thường gặp trong đời sống người Công giáo chúng ta. Chúng ta đọc Kinh Thánh ở nhà, trong Thánh Lễ, học hỏi Kinh Thánh. Vì quá thông dụng nên có lẽ ít khi chúng ta đặt câu hỏi rằng ai đã phân chia Kinh Thánh thành các chương và câu?

mau-nhiem-la-gi
Mầu nhiệm là gì?

Các mầu nhiệm không phải là cái gì bí ẩn, tối tăm khó hiểu; nhưng là những việc huyền diệu mà tình yêu Chúa đã thực hiện; chúng ta muốn chiêm ngắm và hoạ lại trong đời, để đáp lại tình yêu đó. Việc cầu nguyện, suy gẫm và chiêm niệm các mầu nhiệm của Đức Kitô dần dần đưa chúng ta tới sự kết hiệp thân mật với Ngài, gọi là kết hợp thần bí (hay huyền nhiệm: mystique).

chu-amen-cuoi-cung-co-nghia-la-gi-
Chữ “Amen” cuối cùng có nghĩa là gì?

“Sau khi đọc kinh xong, bạn đọc Amen, nhấn mạnh lời Amen, nghĩa là ‘xin Chúa cứ làm cho con như vậy’, chúng ta quyết tâm đón nhận tất cả những điều Chúa dạy trong lời kinh này” (thánh Xyrilô thành Giêrusalem).

dau-la-nguon-goc-co-ao-la-ma-cua-cac-linh-muc
Đâu là nguồn gốc “cổ áo la mã” của các linh mục?

Ngày xưa việc ăn mặc rất khác nhau ở vùng này qua vùng khác, cả giáo dân cũng như linh mục. Tuy nhiên, ở khắp nơi, những người trong hàng giáo sĩ và những người vị vọng đều mặc cổ trắng. Nguồn gốc của nó có từ thế kỷ thứ 16, vào thời đó, không phải chỉ hàng giáo sĩ mới mặc cổ trắng nhưng các người trong giới khoa học, văn chương, tòa án thích mặc áo thêu có đăng ten trắng sang trọng

tai-sao-viec-ruoc-le-lan-cuoi-cung-duoc-goi-la-cua-an-dang
Tại sao việc rước lễ lần cuối cùng được gọi là "Của ăn đàng"?

Lần rước lễ đầu tiên trong đời được gọi là “rước lễ vỡ lòng”, còn lần rước lễ lần chót trong đời được gọi là “của ăn đàng”. Từ ngữ này có ý nghĩa gì? Đây là một từ dịch bởi tiếng La-tinh viaticum và xa hơn nữa, gốc bởi tiếng Hy-lạp hodoiporion và ephodion.

tai-sao-cac-vo-chong-tin-huu-kito-phai-mang-nhan
Tại sao các vợ chồng tín hữu kitô phải mang nhẫn?

Nhẫn cưới không phải là một biểu tượng, nó nói lên các đức tính vững bền. Dù làm bằng đồng, bằng bạc, bằng vàng hay bất cứ hợp kim nào, chiếc nhẫn mang rất nhiều giá trị mà Giáo hội đã biến chiếc nhẫn thành biểu tượng cho giao ước bất khả phân ly của hai vợ chồng.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.