kinhthanh

TRANG CHỦ li-category CÁC VĂN KIỆN li-category Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới lần thứ XII: LỜI THIÊN CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH (2)

  
                                                            Chương I

                                Mạc khải, Lời Thiên Chúa, Hội Thánh

 «Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài » (Dt 1,1-2).

Sáng kiến đến từ Thiên Chúa. Mạc khải của Thiên Chúa được tỏ bày ra như là Lời Thiên Chúa

6. « Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho biết mầu nhiệm của ý muốn Ngài » [10]. Đứng trước nguy cơ giam hãm mầu nhiệm Thiên Chúa vào trong các cơ cấu thuần túy nhân loại và vào trong một tương quan lạnh lẽo và võ đoán, Công đồng Vatican II trình bày, trong Dei Verbum, một tổng hợp về đức tin của Hội Thánh, đức tin mang tuổi già nhiều thế kỷ, bằng cách đề nghị các đường hướng chủ đạo hướng dẫn việc suy tư đúng đắn. Thiên Chúa tỏ mình ra theo cách vừa nhưng-không vừa có định hướng nhằm thiết lập một tương quan liên vị về chân lý và tình yêu với con người và thế Ngài đã tạo thành thế giới. Ngài tự mạc khải chính mình trong thực tại hữu hình của vũ trụ và lịch sử « bằng các việc làm và lời nói có liên hệ mật thiết với nhau » [11], như thế Ngài cho thấy có một « nhiệm cục mạc khải », nghĩa là một dự phóng nhắm cứu độ con người và, cùng với con người, toàn thể tạo thành. Như thế được mạc khải dưới mắt chúng ta vừa là chân lý về Thiên Chúa, Một và Ba, vừa là chân lý về con người, mà Thiên Chúa yêu thương và muốn làm cho nên hạnh phúc, một chân lý đạt được sự huy hoàng xán lạn tuyệt vời nhất của nó nơi Đức Giêsu Kitô, « Đấng vừa là Trung gian vừa là sự viên mãn của toàn thể mạc khải » [12].

Tương quan truyền thông nhưng-không này, giả thiết có một sự hiệp thông sâu xa, tương tự sự truyền thông của loài người, chính Thiên Chúa gọi là Lời của Ngài, « Lời Thiên Chúa ». Do đó, Lời này phải được hiểu đến tận căn như là một hành vi hữu vị của Thiên Chúa Một và Ba, yêu thương, nên cũng nói, và nói với con người để cho con người nhận biết tình yêu ấy và đáp trả [13]. Điều này được xác nhận qua việc đọc chăm chú Kinh Thánh, kể từ sách Sáng thế đến tận sách Khải huyền. Khi Lời Thiên Chúa được đọc, và nhất là được công bố, như trong trường hợp Bí tích Thánh Thể, « bí tích ưu việt » [14], và trong các bí tích khác, chính Chúa mời gọi chúng ta « thực hiện » một biến cố liên vị, đặc biệt và sâu xa, về hiệp thông giữa Ngài và chúng ta, và giữa tất cả chúng ta với nhau. Quả thật, Lời Thiên Chúa thì hữu hiệu nên thực hiện được điều mà Lời quả quyết (x. Dt 4,12).

Con người cần Mạc khải

7. Con người có khả năng biết Thiên Chúa, và biết Ngài khởi đi từ chính những phương tiện Ngài đã ban cho nó (x. Rm 1,20), đặc biệt là thế giới tạo thành (liber naturae). Tuy nhiên, trong các hoàn cảnh trong đó con người đang sống, hoàn cảnh có do tội lỗi, sự hiểu biết này đã trở nên mờ tối và không chắc chắn, và bị nhiều người phủ nhận. Nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi thọ tạo của Ngài bằng cách tháp vào trong nó, cho dù điều này không phải bao giờ cũng được nhận biết, một nguyện vọng được có ánh sáng, ơn cứu độ và sự bình an. Nguyện vọng này tiếp tục hiện hữu xuyên qua việc loan báo Tin Mừng trên toàn thế giới, nhờ đó tạo ra được những giá trị tôn giáo và văn hóa. Các giá trị này giúp một số lớn lên đường đi tìm vị Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô.

Ngay trong đời sống của dân Thiên Chúa, ta nhận ra có khát vọng nhức buốt – cũng như nhu cầu – được thưởng thức một đức tin tinh trong và xinh đẹp, nhờ xé bỏ đi tấm màn của sự ngu dốt, sự lẫn lộn và sự ngờ vực đối với Thiên Chúa và đối với con người, và như thế biện phân ra và củng cố thêm trong chân lý của Thiên Chúa biết bao chinh phục của tiến bộ. Vậy ta có thể nói đến một nhu cầu sâu xa và mơ hồ, tương tự một lời khẩn cầu, đang mở ra cách hiện sinh với chân lý của Mạc khải, được chính Thiên Chúa thực hiện vì sự thiện hảo của nhân loại, nghĩa là mở ra với việc lắng nghe Lời Ngài. Quan tâm đến điều này chính là nền tảng của các mục tiêu của THĐGM, vì nhắm đến những hậu quả trong mục vụ, do chỗ THĐGM xác nhận và khuyến khích tiến trình của công cuộc tái phúc âm hóa và đồng thời cho phép nắm lấy những thông tin quý báu nhằm đi tới đối thoại đại kết, liên tôn và văn hóa.

Lời Thiên Chúa đan quyện với lịch sử con người và hướng dẫn con đường nó theo

8. Trong một số nền văn hóa, con người hiện đại cảm thấy mình là người kiến tạo, tức cũng là chủ nhân, của lịch sử của mình, và con người thấy khó mà chấp nhận rằng có kẻ nào đó xen vào trong thế giới của họ mà không đối thoại với họ và không cung cấp cho họ những lý do của sự có mặt của kẻ ấy. Một thái độ như thế cũng có thể có đối với Thiên Chúa, dưới một hình thái thường là lầm lạc và, dù sao, cũng mang đặc tính là sự nghi ngờ. Tuy nhiên, Thiên Chúa, Đấng không thể im lặng về chân lý của Lời Ngài, trấn an con người rằng đây luôn luôn là Lời của người bạn, nhắm đến sự thiện hảo của họ, mà vẫn tôn trọng tự do của họ, nhưng đồng thời Ngài xin họ lắng nghe Lời ấy cách ngay thẳng, rồi suy ngẫm Lời ấy. Quả thật, Lời Thiên Chúa cần phải « xuất hiện ra như một sự cởi mở ra với các vấn đề [của con người], một câu trả lời cho các câu hỏi của họ, một sự nới rộng ra đón lấy các giá trị của họ, đồng thời cũng là việc thỏa mãn những khát vọng sâu xa nhất của họ » [15]. Vẫn dưới ánh sáng của Dei Verbum, chúng ta được biết rằng, do chỗ được Thiên Chúa công bố, Lời của Ngài – tuy đi trước mọi sáng kiến và lời nói của con người – muốn mở ra cho con người những chân trời không ngờ đưa lại chân lý và ý nghĩa, như được chứng minh bởi các bản văn St 1; Ga 1,tt; Dt 1,1; Rm 1,19-20; Gl 4,4; Cl 1,15-17. Thánh Grêgôriô Cả đã quả quyết: « Khi Kinh Thánh hạ mình xuống mà dùng các lời nói nghèo hèn của chúng ta, chính là để đưa chúng ta đi lên nhẹ nhàng, từng bậc một, từ những gì chúng ta thấy gần bên chúng ta cho tới những điều cao vời » [16].

Ngay từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã muốn « mở ra con đường cứu độ cao vời » [17]. Dưới ánh sáng Kinh Thánh, chúng ta đã được ban cho biết theo cách thức nào mà Lời quyền năng của Ngài đã bắt đầu một cuộc đối thoại sống động, đôi khi đầy kịch tính, nhưng đến cuối là chiến thắng, với nhân loại ngay buổi đầu, rồi trong lịch sử của dân Ngài, là Israel, và đạt tới Mạc khải tối hậu nơi cuộc đời Đức Giêsu Kitô, Lời vĩnh cửu nhập thể của Ngài (x. Ga 1,14). Thánh Ephrem đã hát: « Khi đó tôi đã chiêm ngưỡng Ngôi Lời Tạo Hóa và tôi đã so sánh Người với Tảng Đá tiến đi với đoàn dân giữa sa mạc. Không hề nhận vào mình cũng không tích lũy nước, Người lại đã đổ xuống đoàn dân những dòng suối tuyệt vời. Không có chút nước nào nơi Người, nhưng từ Người, các dại dương lại đã tuôn trào. Cũng thế, từ không có gì, Ngôi Lời đã tạo thành các công trình của Người. Phúc thay ai xứng đáng được thừa kế Thiên đàng của Ngài! Môsê, trong Sách của ông, đã mô tả cuộc tạo dựng toàn thể Thiên Nhiên để Thiên Nhiên và quyển Sách làm chứng cho Đấng Tạo Hóa; Thiên Nhiên, nhờ việc sử dụng, Quyển Sách, nhờ việc đọc: đó chính là những chứng nhân đang lan tràn khắp nơi, đang có mặt ở mọi thời, đang hiện diện ở mọi lúc, mà chứng minh cho người ngoại giáo biết họ đang vô ơn thế nào đối với Đấng Tạo Hóa » [18].

Kiểu nhìn Lời Thiên Chúa như thế có một hậu quả về  mục vụ. Lời này đan kết lịch sử của mình với lịch sử của loài người, Lời này trở thành lịch sử của loài người, khiến cho lịch sử của con người không chỉ gồm toàn những tư tưởng, những lời nói và những sáng kiến. Lời này đưa ra ánh sáng những dấu vết sống động của mình trong thiên nhiên và trong nền văn hóa, Lời này soi sáng các khoa học của con người để các khoa học này đảm nhận được giá trị đúng đắn của chúng; và Lời này cũng được các khoa học ấy giúp đỡ để nêu bật căn tính riêng của Lời, và tỏa rạng chủ trương nhân văn nguyên thủy là chủ trương thuộc về Lời. Một cách đặc biệt hơn, đây là một Lời đã chọn cho mình một dân tộc để chia sẻ con đường đưa tới tự do và ơn cứu độ của họ, bằng cách nêu bật sự vững vàng và kiên nhẫn của Thiên Chúa: là một « Emmanuel » (Is 7,14), Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta » (Is 8,10; x. Rm 8,31; Kh 21,3). Điều này cho phép hiểu được là, nhờ chứng từ của Kinh Thánh, bằng cách nào Lời đã có tiếng vang trong các tư tưởng và các cách diễn tả của con người dọc theo các thời đại, đôi khi cũng phải theo con đường quanh co và đau đớn, trong các biến cố đen tối của lịch sử, bằng cách tạo ra những hiệu quả phi thường, được biểu lộ cách lạ lùng qua gương các thánh. Khi sống các đặc sủng riêng của mình như một ân ban của Chúa Thánh Thần, các ngài đã cho thấy các tiềm năng to lớn và độc đáo của Lời Thiên Chúa khi được quan tâm đến.

Ngày hôm nay điều đặc biệt quan trọng là giúp hiểu tương quan đúng đắn giữa Mạc khải công làm nên Kinh Tin Kính của Kitô giáo, và các mạc khải tư, nhờ biện phân ra tính thích đáng của các mạc khải đối với đức tin chân chính.

Đức Giêsu Kitô là Lời Thiên Chúa nhập thể, là sự viên mãn của Mạc khải

9. « Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử » (Dt 1,1tt). Các Kitô hữu nói chung nhận ra được đặc tính trung tâm của con người Đức Giêsu Kitô trong Mạc khải của Thiên Chúa. Nhưng không phải bao giờ họ cũng nắm được các lý do của tầm quan trọng này, cũng như không hiểu làm thế nào mà Đức Giêsu lại là trung tâm của Lời Thiên Chúa; chính vì thế, cả khi đọc Kinh Thánh, họ cũng khó mà đọc được Mạc khải này theo cách Kitô giáo.

Và vẫn dưới ánh sáng của Lời Thiên Chúa, cần phải nhớ lại rằng Thiên Chúa đã muốn có một sáng kiến hoàn toàn không thể tiên liệu, thế nhưng đã được thực hiện: « Ngài đã sai phái Con của Ngài, nghĩa là Ngôi Lời vĩnh cửu, đến Người soi sáng mọi người,  để Người ở lại giữa họ và giải thích cho họ hiểu những bí mật của Thiên Chúa (x.Ga 1,1-18). Do đó Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể, con người được cử đến giữa loài người, ‘đã nói những lời của Thiên Chúa’ (Ga 3,34) và thực hiện trọn vẹn công trình cứu độ mà Chúa Cha đã ký thác cho Người (x. Ga 5,36; 17,4) » [19]. Do đó, trong cuộc sống dưới thế này, và bây giờ trong cuộc sống trên thiên quốc, Người đảm nhận và thực hiện tất cả mục đích, ý nghĩa, lịch sử và dự phóng mà Lời Thiên Chúa hàm chứa bởi vì như thánh Irênê nói: « Đức Kitô đã làm cho mọi sự nên mới khi đến giữa chúng ta » [20].

Dưới ánh sáng của Đức Giêsu Kitô, điều quan trọng ở bình diện mục vụ là biết nhận lấy, theo cách loại suy, giá trị đa dạng đã được Lời Thiên Chúa đảm nhận trong niềm tin của Hội Thánh, thể theo chứng từ của chính Kinh Thánh. Quả thế, Lời này tỏ ra như là Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa, Lời này tỏa rạng trong công cuộc tạo dựng, Lời này đảm nhận một dung mạo lịch sử nơi các tiên tri, Lời này tỏ mình ra nơi con người Giêsu, Lời này vang lên trong tiếng nói của các tông đồ và hôm nay được công bố trong Hội Thánh. Lời này làm thành một toàn thể, mà chìa khóa giải thích, nhờ Chúa Thánh Thần, chính là Chúa Kitô-Lời. « Lời Thiên Chúa lúc đầu ở với Thiên Chúa, thật ra trong tình trạng viên mãn của mình, không phải là nhiều lời: Lời này không được làm nên bởi nhiều lời, Lời này là Lời duy nhất, bao gồm một số lớn các ý tưởng mà mỗi ý tưởng là một phần của Lời trong tính toàn thể [...]. Và nếu Chúa Kitô đưa chúng ta trở lại với các « Sách thánh », là vì các sách này làm chứng cho Người, Người coi các sách của Kinh Thánh như một cuộn duy nhất, bởi vì tất cả những gì đã được viết về Người thì được tóm lại trong một cái toàn thể duy nhất » [21]. Ở đây ta thấy có một sự tiếp nối trong tình trạng khác biệt.

Cốt yếu của lời Hội Thánh loan báo là dành để giới thiệu sự phong phú này của Lời. Cộng đoàn Kitô hữu cảm thấy mình được Lời Thiên Chúa sinh ra và đổi mới nếu cộng đoàn biết cách hiểu Lời ấy nơi Đức Giêsu Kitô. Nhưng cũng đúng là Lời của Đức Giêsu – nghĩa là chính Đức Giêsu – phải được hiểu như Người đã nói, theo Kinh Thánh (x. Lc 24,44-49), nghĩa là trong lịch sử của dân Thiên Chúa của Cựu Ước, dân đã từng chờ đợi Người như là Đấng Mêsia, và bây giờ trong lịch sử của cộng đoàn Kitô hữu, là cộng đoàn đang loan báo Người bằng lời rao giảng, đang suy ngẫm về Người nhờ Kinh Thánh, đang trải nghiệm tình bằng hữu và sự hướng dẫn của Người trong cuộc sống. Thánh Bênađô khẳng định rằng trên bình diện cuộc Nhập thể của Lời, Chúa Kitô là trung tâm của toàn thể Kinh Thánh. Lời Thiên Chúa, đã từng vang lên trong Cựu Ước, đã trở thành hữu hình nơi Chúa Kitô [22].

Lời Thiên Chúa như là một bản tổng phổ

10. Các thông tin được cung cấp trên đây cho phép bây giờ phác ra ý nghĩa mà Hội Thánh gán cho Lời Thiên Chúa dưới ánh sáng của Mạc khải. Lời đó là như một bản tổng phổ được diễn tả bởi nhiều nhạc cụ, theo nghĩa là Thiên Chúa thông ban Lời của Ngài dưới nhiều hình dạng và nhiều cách thức (x. Dt 1,1) trong một lịch sử dài và xuyên qua những người loan báo khác nhau, nhưng trong đó có một hệ thống phẩm trật các ý nghĩa và các chức năng. Do đó, thật đúng khi nói về nghĩa loại suy của Lời.

a- Dưới ánh sáng của Mạc khải, Lời Thiên Chúa là Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa, Ngôi thứ hai của Ba Ngôi, là Con của Chúa Cha, là nền móng của cuộc thông giao bên trong Ba Ngôi và ad extra: « Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành » (Ga 1,1-3; x. Cl 1,16).

b- Do đó, thế giới thọ tạo « tường thuật vinh quang Thiên Chúa » (Tv 19,1), và tiếng Ngài có nơi mọi sự (x. Hc 46,17; Tv 68,34). Vào lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã tạo nên vũ trụ bằng Lời của Ngài, và đặt dấu ấn là sự Khôn ngoan Ngài trên toàn thể thọ tạo; còn con người, đã được tạo nên theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa (x. St 1,26-27; Rm 1,19-20), thì được giao cho việc giải thích vũ trụ thiên nhiên. Quả thật, Lời ban lời cho con người để mở ra cuộc đối thoại với Thiên Chúa và với thọ tạo. Như thế, Thiên Chúa đã làm cho các loài thọ tạo và con người in primis thành « một chứng từ bền vững về chính Ngài » [23].

c- « Ngôi Lời đã trở nên người phàm » (Ga 1,14): Lời Thiên Chúa ưu việt, Lời tối hậu và vĩnh viễn chính là Đức Giêsu Kitô, bản thân của Người, sứ mạng của Người và lịch sử của Người liên kết chặt chẽ với nhau, theo kế hoạch của Chúa Cha, kế hoạch này lên tới đỉnh cao trong lễ Phục Sinh và sẽ được nên trọn khi Đức Giêsu trao trả Vương quyền cho Chúa Cha (x. 1 Cr 15,24). Người là Tin Mừng của Thiên Chúa ban cho loài người (x. Mc 1,1).

d- Vì hướng tới Lời là Chúa Con nhập thể, vào thời xa xưa, Thiên Chúa đã nói qua các tiên tri (x. Dt 1,1) và trong sức mạnh của Thánh Thần, các Tông đồ tiếp tục loan báo Đức Giêsu và Tin Mừng của Người. Vì phục vụ Lời duy nhất của Thiên Chúa như thế, các lời nói của con người được đón nhận như là các lời của Thiên Chúa và vang lên trong lời loan báo của các tiên tri và các Tông đồ.

e- Dưới ơn linh hứng, Kinh Thánh liên kết Lời của Đức Giêsu với lời của các tiên tri và các Tông đồ, và chứng thực cho Lời ấy ; do đó, Kinh Thánh chứa đựng Lời Thiên Chúa và, bởi vì được linh hứng, Kinh Thánh đúng là Lời Thiên Chúa [24], được quay hướng hoàn toàn về Lời là Đức Giêsu, bởi vì « chính Kinh Thánh làm chứng về Tôi » (Ga 5,39). Còn về đặc sủng linh hứng, các sách của Kinh Thánh có một sức mạnh quyết định trực tiếp và cụ thể mà không bản văn nào hoặc sự can thiệp nào của giáo quyền có được.

f- Nhưng Lời Thiên Chúa không bị phong tỏa trong các bản văn. Quả vậy, nếu hành vi Mạc khải đã kết thúc với cái chết của vị Tông đồ cuối cùng [25], Lời mạc khải tiếp tục được loan báo và lắng nghe trong lịch sử Hội Thánh, còn Hội Thánh thì dấn thân công bố Lời này cho thế giới để đáp lại các chờ đợi của thế giới. Như thế, Lời tiếp tục dòng lưu chuyển xuyên qua lời rao giảng sống động và dưới nhiều hình thức khác nhằm phục vụ công việc phúc ân hóa: từ đó, lời rao giảng là Lời Thiên Chúa, mà Thiên Chúa hằng sống truyền đạt cho những con người sống động trong Đức Giêsu Kitô, nhờ trung gian Hội Thánh. Khởi đi từ đó, ta có thể hiểu rằng khi mạc khải của Thiên Chúa được rao giảng, thì trong Hội Thánh xảy ra một biến cố có thể thật sự được gọi là Lời Thiên Chúa.

Phải nhìn nhận rằng nơi Lời Thiên Chúa có tất cả những phẩm chất của một hành vi truyền thông liên vị trung thực như, chẳng hạn, một chức năng thông tin, do chỗ Thiên Chúa thông truyền chân lý của Ngài; một chức năng diễn tả, do chỗ Thiên Chúa để xuất hiện ra cách suy tư, yêu thương, hành động của Ngài; một chức năng kêu gọi, do chỗ Thiên Chúa gọi tới và kêu mời lắng nghe và đáp trả bằng đức tin.

Nhiệm vụ của các mục tử là giúp các tín hữu có cái nhìn hài hòa này về Lời, bằng cách tránh các hình thức hiểu biết sai lạc, giảm thiểu hoặc hàm hồ, bằng cách đưa ra ánh sáng liên hệ nội tại của Lời với mầu nhiệm Thiên Chúa Một và Ba và Mạc khải của Ngài, sự hiển lộ của Lời trong thế giới tạo thành và sự Hiện diện ở dạng phôi thai của Lời trong đời sống và lịch sử con người, sự diễn tả tối cao của Lời nơi Đức Giêsu Kitô, việc chứng thực cho Lời cách bất khả ngộ trong Kinh Thánh và việc truyền đạt Lời trong Thánh Truyền sống động. Còn về mầu nhiệm Lời Thiên Chúa, đã trở thành ngôn ngữ con người, ta cần chú ý đến công việc tìm kiếm khoa học về ngôn ngữ và sự thông truyền ngôn ngữ.

Đức tin đáp trả Lời Thiên Chúa. Đức tin tỏ bày trong việc lắng nghe

11. « Đối với Thiên Chúa, Đấng mạc khải, phải bày tỏ sự vâng phục bằng đức tin » [26]; cho Thiên Chúa, Đấng ban chính mình khi nói, con người đang lắng nghe Ngài « phó thác toàn thân một cách tự do » [27]. Điều này đưa đến chỗ cộng đoàn và cá nhân mỗi tín hữu [28] phải cung cấp một câu trả lời đầy đủ với đề nghị hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa và gắn bó với Ý muốn của Ngài. Một thái độ đức tin và hiệp thông như thế sẽ được tỏ lộ ra vào mỗi cuộc gặp gỡ với Lời, khi nghe lời giảng sống động và đọc Kinh Thánh. Không phải là một chuyện ngẫu nhiên nếu, cho cuộc gặp gỡ với Sách Thánh, Lời Thiên Chúa lại đề nghị điều mà văn kiện khẳng định tổng quát cho Lời Thiên Chúa: « Thiên Chúa ngỏ lời với loài người như với bạn hữu [...] để mời gọi họ và chấp nhận cho họ đi vào cuộc sống của chính Ngài » [29]. « Trong các Sách Thánh, Chúa Cha, Đấng ngự trên trời, âu yếm đến gặp con cái Ngài và đi vào trò chuyện với họ » [30]. Mạc khải là hiệp thông tình yêu, thường được Sách Thánh diễn tả bằng từ ngữ « giao ước » (x. St 9,9; 15,18; Ed 24,1-18; Mc 14,24).

Ở đây ta chạm đến một phương diện có hậu quả mục vụ rất lớn: đức tin liên quan đến Lời Thiên Chúa trong tất cả các dấu chỉ và ngôn ngữ. Đây là một đức tin, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, được Lời thông ban cho chân lý, xuyên qua bài tường thuật hay công thức giáo lý; một đức tin nhận biết rằng Lời đang khuyến khích người ta hoán cải thật sự, Lời là một ánh sáng giúp đáp trả biết bao câu hỏi thuộc đời sống người tín hữu, là một người hướng dẫn giúp biện phân thực tại cách đúng đắn và khôn ngoan, là một sự thôi thúc « thực hiện (làm) » Lời (x. Lc 8,12) chứ không chỉ đọc hoặc công bố Lời mà thôi, và cuối cùng là nguồn mạch thường xuyên đưa lại sự an ủi và niềm hy vọng. Một thứ luận lý vững chắc của đức tin phát xuất từ đó là nhiệm vụ nhận biết và đảm bảo cho vị trí ưu tiên của Lời Thiên Chúa trong đời sống của mỗi tín hữu, bằng cách đón nhận Lời như Hội Thánh loan báo, hiểu, giải thích và sống.

Đức Maria, mẫu gương cho người tín hữu về việc đón tiếp Lời Thiên Chúa

12. Trên con đường đi sâu vào mầu nhiệm của Lời Thiên Chúa, Đức Maria Nadarét, kề từ biến cố Truyền Tin, vẫn là nhà giáo dục và là thân mẫu của Hội Thánh, và là mẫu gương sống động về bất cứ cuộc gặp gỡ riêng tư và cộng đoàn nào với Lời, mà Mẹ đã đón tiếp trong đức tin, Mẹ đã suy ngẫm, đã đưa vào nội tâm và sống (x. Lc 1,38; 2,19.51; Cv 17,11). Quả vậy, Đức Maria đã lắng nghe và suy ngẫm Kinh Thánh, bằng cách kết nối Kinh Thánh với các lời Đức Giêsu nói và các biến cố Mẹ đã khám phá ra dọc theo lịch sử của mình. Isaac bề trên tu viện Sao sáng đã tuyên bố: « Trong Kinh Thánh, được Thiên Chúa linh hứng, điều được nói cách chung cho Hội Thánh trinh nữ và thân mẫu, thì cũng được áp dụng cách riêng cho Đức Maria, trinh nữ và thân mẫu [...]. Theo nghĩa tổng quát, Hội Thánh là người thừa kế của Chúa, theo nghĩa hoàn toàn đặc biệt, Đức Maria, còn theo nghĩa riêng tư, mỗi tâm hồn trung thành cũng là người thừa kế của Ngài. Trong nhà tạm là cung lòng của Đức Maria, Chúa Kitô đã ở đấy trong vòng chín tháng; trong nhà tạm là đức tin của Hội Thánh, Người ở đó cho đến ngày tận thế, trong sự hiểu biết và trong tình yêu của mỗi tâm hồn trung thành đến muôn thuở muôn đời » [31].

Đức Trinh Nữ Maria biết nhìn chung quanh Mẹ và Mẹ thấy các nỗi cấp bách của cuộc sống hằng ngày, vì Mẹ ý thức rằng những gì Mẹ nhận như là quà tặng từ Chúa Con  là một quà tặng cho tất cả mọi người. Mẹ dạy cho biết đừng sống như những khán giả xa lạ với Lời ban sự sống, nhưng hãy tham gia vào, bằng cách để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt, vì Ngài đang cư ngụ trong người nào đang tin. Mẹ « ngợi khen » Chúa, vì khám phá ra trong đời sống Mẹ lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa, Đấng làm cho Mẹ nên « có phúc » bởi vì Mẹ « đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em » (Lc 1,45). Ngoài ra, Mẹ mời mỗi tín hữu nhận lấy làm của mình những lời của Đức Giêsu: « Phúc cho những ai không thấy mà tin » (Ga 20,29). Đức Maria là hình ảnh của người cầu nguyện chân chính với Lời, biết giữ Lời Thiên Chúa với tình yêu, bằng cách làm cho việc này thành một dịch vụ tình yêu, một ký ức thường hằng giúp giữ ngọn đèn đức tin cháy sáng trong cuộc sống hằng ngày. Đối với thánh Ambrôsiô, bất cứ Kitô hữu nào tin thì cưu mang và sinh hạ Ngôi Lời Thiên Chúa. Nếu chỉ có một người mẹ duy nhất của Chúa Kitô về phương diện xác thịt, thì ngược lại, theo đức tin, Chúa Kitô là hoa trái của mọi người [32].

Lời Thiên Chúa, được ký thác cho Hội Thánh, được truyền đạt cho mọi thế hệ

13. « Những gì Thiên Chúa đã mạc khải để cứu rỗi muôn dân, Ngài đã ân cần sắp đặt để luôn được bảo toàn và lưu truyền nguyên vẹn cho mọi thế hệ » [33]. Là bạn và là Cha của tất cả mọi người, Thiên Chúavẫn còn nói. Một cách nào đó, Mạc khải, tuy đã kết thúc, vẫn còn được thông truyền, khiến cho Lời Thiên Chúavần luôn hiện đại và hiện thực. Thậm chí Lời có thể còn cho thấy rõ ràng hơn nữa phần đóng góp ánh sáng của mình và giúp phát triển sự hiểu biết của chúng ta. Điều này có thể có được bởi vì khi ban Thánh Thần của Đức Giêsu cho Hội Thánh, Chúa Cha ký thác cho Hội Thánh kho tàng mạc khải [34],  bằng cách làm cho Hội Thánh trở thành người nhận đầu tiên và chứng nhân ưu tuyển của Lời yêu thương và cứu độ của Thiên Chúa.

Chính vì thế, Lời không phải là một của ký gửi bất động trong Hội Thánh: Lời trở thành một « quy tắc tối hậu cho đức tin » của Hội Thánh và quyền lực đưa lại sự sống, Lời « được tiến triển trong Giáo Hội dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần » « lớn lên [...] nhờ các tín hữu chiêm ngưỡng và học hỏi » [35], nhờ kinh nghiệm riêng tư về đời sống thiêng liêng và nhờ việc giảng dạy của các giám mục. Điều này được đặc biệt chứng thực bởi những con người của Thiên Chúa, đã « cư ngụ » trong Lời [36]. Rõ ràng là sứ mạng chắc chắn và đầu tiên của Hội Thánh là truyền đạt Lời Thiên Chúa cho tất cả mọi người, vào mọi thời và ở mọi nơi, theo lệnh truyền của Đức Giêsu (x. Mt 28,18-20). Lịch sử làm chứng về cách thức  điều đó đã xảy ra và tiếp tục xảy ra hôm nay nữa, nhiều thế kỷ sau, mặc dù có nhiều trở ngại, nhưng luôn luôn với sinh lực và sự phong phú dồi dào.

Thánh Truyền và Kinh Thánh trong Hội Thánh: một kho tàng thánh thiêng duy nhất bảo tôn Lời Thiên Chúa

14. Về vấn đề này, cần phải nhắc lại rằng Lời Thiên Chúa, đã trở thành trong Chúa Kitô Phúc Âm hoặc Tin Mừng và được ký thác cho việc rao giảng của các Tông đồ, tiếp tục con đường của mình theo hai điểm quy chiếu, có thể dễ dàng nhận ra và liên kết chặt chẽ với nhau: dòng lưu chuyển sự sống của Thánh Truyền sống động, được biểu lộ ra bằng « tất cả thực chất của Hội Thánh  và tất cả những gì Hội Thánh  tin » [37], do đó bằng việc phượng tự, bằng giáo lý và bằng đời sống của Hội Thánh, còn Kinh Thánh, do ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần và do chữ viết không thay đổi, bảo tồn các yếu tố cấu tạo nên và nguyên thủy của Thánh Truyền sống động này. « Bởi vậy, Thánh Truyền này cùng với Thánh Kinh Cựu và Tân Ước, là như tấm gương mà Giáo Hội lữ thứ trên trần gian nhìn vào để chiêm ngưỡng Thiên Chúa, do bởi Ngài, Giáo Hội nhận lãnh tất cả, cho đến khi được dẫn tới để nhìn thấy Ngài diện đối diện, Ngài thế nào Giáo Hội sẽ thấy như vạy (x. 1 Ga 3,2) » [38]. Nhiệm vụ của Huấn quyền Hội Thánh, không ở trên Lời Thiên Chúa, là « giải thích Lời Thiên Chúa đã được ghi chép hay truyền lại » [39].

Công đồng Vatican II nhấn mạnh trên tính duy nhất về nguồn gốc và trên nhiều dây liên kết giữa Thánh Truyền và Kinh Thánh: Hội Thánh đón nhận cả hai « với một lòng quý mến và thành kính như nhau » [40]. Huấn quyền mang đến một việc phục vụ không thể thay thế do « Huấn quyền kính mến lắng nghe, thành kính gìn giữ và trung thành trình bày Lời đó » [41], như thế bằng cách đảm bảo một cách giải thích trung thực Lời Thiên Chúa.

Về quan điểm mục vụ, bách cách đi theo giáo lý của Hội Thánh, các tương quan giữa Thánh Truyền và Kinh Thánh được làm sáng tỏ trên bình diện tư tưởng và được diễn tả ra thành kinh nghiệm sống, như chẳng hạn sự kiện là vào buổi đầu Thánh Truyền đi trước Kinh Thánh và là như humus (đất mùn) giàu sự sống giúp cho « Kinh Thánh được hiểu biết thấu đáo hơn » và « không ngừng tác động » [42]. Đàng khác, « lời nói sau đây hoàn toàn đúng về Thánh Kinh: “Thật vậy, lời Thiên Chúa sống động và linh hoạt” (Dt 4,12), “có sức xây dựng và ban phần gia nghiệp cho mọi người đã được thánh hoá” (Cv 20,32; x. 1 Tx 2,13) » [43]. Cả hai là như các con kênh thông truyền Lời Thiên Chúa, còn Lời này lại kín múc được sự viên mãn về ý nghĩa và về ân sủng khi chấp nhận cả hai, « điều này ở trong điều kia », khiến cho, trong nhãn quan này, cả Thánh Truyền lẫn Kinh Thánh đều được gọi, và đều đúng, là Lời Thiên Chúa.

Các hậu quả có một ảnh hưởng quan trọng ở bình diện mục vụ thì nhiều. Không thể có một thứ « sola Sciptura » tự mình và cho mình: Kinh Thánh được liên kết với Hội Thánh, nghĩa là với chủ thể đón nhạn và hiểu đồng thời Thánh Truyền và Kinh Thánh. Kinh Thánh đóng một vai trò cốt yếu giúp đạt tới Lời trong tình trạng trung thực tại nguồn, bằng cách trở thành tiêu chuẩn giúp hiểu đúng đắn Thánh Truyền.

Trong các hậu quả thực tiễn, cũng phải quan tâm đến sự phân biệt giữa Truyền thống các tông đồ nền tảng – là truyền thống đến sau có vai trò giải thích và hiện tại hóa – và các truyền thống khác của Hội Thánh; cũng như cũng phải lượng định tầm mức quyết định của việc nhìn nhận Thư Quy của Kinh Thánh, từ phía Hội Thánh đã đảm bảo cho tính trung thực của Hội Thánh (73 sách : 46 thuộc Cựu Ước và 27 thuộc Tân Ước) [44], khi đứng trước sự tràn lan các sách không trung thực hoặc ngụy thư, của ngày hôm qua, hôm nay và mãi mãi.

Cuối cùng, ở tại bối cảnh vẫn còn có việc đối chiếu và đối thoại tế nhị, cần thiết và tha thiết, giữa Kinh Thánh và Thánh Truyền với các dấu chỉ của Lời Thiên Chúa trong thế giới tạo thành, nhất là với con người và lịch sử của con người [45].

Chính là trong đường lối của Truyền Thống sống động, tức là trong chiều hướng việc phục vụ chân chính Lời Thiên Chúa, mà ta cũng phải xét tới hình thức của Giáo lý, kể từ Kinh Tin Kinh đầu tiên, là cốt lõi của mọi Giáo lý, cho đến các trình bày khác nhau dọc theo các thế kỷ, mà lời chứng gần nhất trong Hội Thánh Hoàn vũ là sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo và trong các Hội Thánh địa phương, các sách Giáo lý tương ứng.

Kinh Thánh, Lời Thiên Chúa được linh hứng

15. « Kinh Thánh là Lời Thiên Chúa nói, xét theo tư cách được ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần ». Hai tên được dùng để gọi đặc biệt hơn: Các Bản văn thánh và quyển Kinh Thánh, những danh hiệu tự chúng đã có ý nghĩa, như là Bản Văn và quyển Sách ưu việt, được phổ biến ra bên ngoài biên giới của Hội Thánh.

Theo nguyên tắc, các điểm sau đây phải được quan tâm đến, do ảnh hưởng tác động của chúng trong việc đọc Kinh Thánh: trong khung cảnh thần học đã được nhắc đến ở trên, Kinh Thánh và Thánh Truyền thông ban Lời Thiên Chúa cách bất biến và làm vang lên « tiếng nói của Chúa Thánh Thần » [47], đặc sủng linh hứng, theo đó, Chúa Thánh Thần làm cho các quyển sách Kinh Thánh trở thành Lời Thiên Chúa và ký thác các sách đó cho Hội Thánh, đó là Lời phải được đón nhận trong vâng phục đức tin; tính duy nhất của Thư Quy, được coi như tiêu chuẩn giải thích Kinh Thánh; chân lý của Kinh Thánh phải được hiểu trước tiên như là « chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại nhằm cứu độ chúng ta » [48]; ý nghĩa và tầm mức của căn tính của Kinh Thánh như là Lời Thiên Chúa trong ngôn ngữ con người, do đó việc giải thích Kinh Thánh được thực hiện cách thông nhất, dưới sự hướng dẫn của đức tin và theo những tiêu chí triết học và thần học, đặc biệt dưới ánh sáng của Văn kiện của Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng Việc giải thích Kinh Thánh trong Hội Thánh [49].

Hôm nay ta nhận thấy ngày càng rõ trong dân Thiên Chúa, như xưa Amốt đã ghi nhận, có tình trạng đói khát Lời Thiên Chúa (x. Am 8,11-12). Đây là một nhu cầu sống còn không được coi thường, bởi vì chính Chúa gây ra. Đàng khác, cũng phải buồn phiền ghi nhận rằng không phải ở đâu cũng nhận ra nhu cầu này, bởi vì Lời Thiên Chúa ít được phổ biến và việc gặp gỡ với các Sách Thánh không được tạo điều kiện dễ dàng đủ. Giúp các tín hữu hiểu Kinh Thánh là gì, tại sao có Kinh Thánh, Kinh Thánh mang lại gì cho đức tin và làm cách nào sử dụng Kinh Thánh là một đòi hỏi quan trọng mà Hội Thánh đã luôn đáp trả, và vào thời đại chúng ta cách đặc biệt hơn trong bốn chương của Dei Verbum [50]. Các cộng đoàn chúng ta đang đứng trước bổn phận là hiểu biết các chương này cho thích đáng, bằng cách sử dụng các phần đóng góp khác của Huấn quyền cũng như của việc tìm tòi chuyên môn.

Một nhiệm vụ cần thiết và tế nhị: giải thích Lời Thiên Chúa trong Hội Thánh

16. Thấy được nhiều Kitô hữu, ở trong lòng các cộng đoàn hoặc riêng tư cá nhân, thật tha thiết học hỏi Lời Thiên Chúa trong Sách Thánh, đối với Hội Thánh, là một cơ hội quý báu để giúp các tín hữu có thể hiểu đúng đắn Lời Thiên Chúa và áp dụng cụ thể. Điều này có lẽ càng có giá trị vào ngày hôm nay, do sự kiện là đã mở ra một cuộc đối chiếu giữa Lời Thiên Chúa và các khoa học của con người, đặc biệt trong lãnh vực tìm tòi triết học, khoa học và lịch sử. Sự phong phú của các chân lý và các giá trị về Thiên Chúa, về con người và các sự vật, sự phong phú đến từ sự tiếp xúc giữa Lời và văn hóa, được nhìn nhận, cũng như đang được đề ra một cuộc đối chiếu thường hằng về những vấn đề chưa được bàn tới. Do đó, lý trí kêu gọi đức tin, và cùng với đức tin, lý trí phải cọng tác mà đi đến một chân lý và một đời sống hài hòa với mạc khải của Thiên Chúa và các chờ đợi của nhân loại [51].

Nhưng cũng có nguy cơ là giải thích võ đoán và giảm thiểu, chẳng hạn chủ trương bảo thủ: một đàng chủ trương này có thể cho thấy ước muốn trung thành với bản văn, nhưng đang khác chủ trương này lại không biết đến chính bản tính của các bản văn ấy, nên đã mở ra với những sai lầm nặng nề và cũng gây ra những xung đột vô ích [52]. Có những nguy cơ khác do những cách đọc « theo ý thức hệ », hoặc thuần túy loài người, không có sự nâng đỡ của đức tin (x. 2 Pr 1,19-20; 3,16), cho tới những hình thức đối lập và tách biệt giữa dạng viết – chủ yếu được chứng thực trong Kinh Thánh –, dạng sống động của việc loan báo và kinh nghiệm sống của các tín hữu. Cũng vậy, khó mà nhận ra được nhiệm vụ của Huấn quyền trong việc phục vụ Lời Thiên Chúa, trong Kinh Thánh cũng như Truyền Thống. Nói chung, người ta nhận thấy có một sự hiểu biết không đầy đủ hoặc không chính xác về các quy tắc giải thích, tương ứng với căn tính của Lời, những quy tắc gồm những tiêu chí của con người và do mạc khải, trong khung cảnh là Truyền Thống của Hội Thánh và việc lắng nghe Huấn quyền.

Dưới ánh sáng của Công đồng Vatican II và Huấn quyền tiếp sau đó [53], một số phương diện dường như hôm nay cần được chú ý và suy tư chuyên biệt, nhằm đi đến một sự truyền thông thích đáng, ở bình diện mục vụ: Kinh Thánh, quyển sách của Thiên Chúa và của con người, phải được đọc bằng cách nối kết đúng đắn ý nghĩa lịch sử-nghĩa chữ và nghĩa thần học-thiêng liêng [54]. Điều này có nghĩa là phương pháp lịch sử phê bình là cần thiết để có một chú giải đúng đắn, khi phương pháp này được phong phú hóa cách thích đáng bởi những hình thái tiếp cận khác [55]. Phải đương đầu với vấn đề giải thích Kinh Thánh, nhưng để đạt tới ý nghĩa tròn đầy của Kinh Thánh, cần phải sử sụng các tiêu chuẩn thần học được Lời Thiên Chúa đề nghị lần nữa: « nội dung và sự duy nhất của toàn thể Thánh Kinh, dựa trên Truyền Thống sống động của toàn thể Giáo Hội và sự suy loại đức tin » [56]. Ngày hôm nay người ta cảm thấy cần có một suy tư thần học và mục vụ chuyên sâu, để đào tạo cho các cộng đoàn đạt được một sự hiểu biết đúng đắn và phong phú về Kinh Thánh như là Lời Thiên Chúa, được chứa đựng trong mầu nhiệm thập giá và phục sinh của Đức Giêsu Kitô, đang sống trong Hội Thánh.

Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI khẳng định: « Nói cách khác, tôi tha thiết mong các nhà thần học học đọc và yêu mến Kinh Thánh, như Công đồng đã diễn tả trong Lời Thiên Chúa: xin các vị hãy nhìn thấy tính duy nhất bên trong của Kinh Thánh – điều này hôm nay được giúp đỡ bởi việc ‘chú giải theo thư quy’ (quả thật, cách này còn đang ở tại giai đoạn khởi đầu và rụt rè) – và sau đó xin các vị hãy thực hành việc đọc thiêng liêng. Việc này không hệ tại điều gì ở bên ngoài, theo kiểu khuyến thiện, nhưng là chìm sâu vào trong sự hiện diện của Lời. Đối với tôi, dường như đây là một bổn phận rất quan trọng: góp phần, cùng với, trong và song song cách chú giải lịch sử và phê bình, làm ra một dẫn nhập trung thực vào Kinh Thánh sống động, Lời hiện tại của Thiên Chúa » [57].

Trong viễn tượng này, phải chăm chú xét đến phần đóng góp của quyển Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, các tiếng vang và các truyền thống khác nhau mà Kinh Thánh khơi lên trong đời sống của dân Thiên Chúa và phần  đóng góp của các khoa thần học và khoa học nhân văn.

Bên cạnh tất cả những cố gắng này, không được quên việc giải thích Lời Thiên Chúa được làm mỗi lần Hội Thánh quy tụ lại để cử hành các Mầu Nhiệm Thánh. Về điểm này, Dẫn nhập vào quyển Bài đọc, được công bố trong Lễ Tế Tạ Ơn, nhắc lại: « Bởi vì, do ý muốn của chính Chúa Kitô dân mới của Thiên Chúa được ban cho có một khối tuyệt vời các thành viên, các chức năng và các nhiệm vụ thuộc về mỗi người trong tương quan với Lời Thiên Chúa cũng đa dạng: như thế, các tín hữu lắng nghe và suy ngẫm Lời ấy, trong khi chỉ những ai đã nhận nhiệm vụ giáo huấn, do đã được truyền chức, hoặc những ai được ký thác cho công việc ấy, mới trình bày Lời ấy. Chính theo cách đó mà trong giáo lý, đời sống và việc phượng tự của mình, Hội Thánh giữ cho tồn tại và truyền đạt cho mỗi thế hệ tất cả những gì làm nên Hội Thánh, và tất cả những gì Hội Thánh tin: theo cách đó, dọc theo các thời đại, Hội Thánh liên tục hướng về chân lý thần linh tròn đầy, cho tới khi Lời Thiên Chúa được hoàn tất nơi Hội Thánh » [58].

Cựu và Tân Ước, một nhiệm cuộc cứu độ duy nhất

17. Ta không thể hoàn toàn thỏa mãn với sự hiểu biết và cách thực hành mà biết bao người có về Kinh Thánh. Cũng do các khó khăn chưa được giải quyết, đôi khi ta ghi nhận là có một sự lúng túng đối với một số trang Cựu Ước, vì chúng xuất hiện ra như là khó, tùy nghi bị đặt ra bên lề, chọn lựa võ đoán, bị từ chối. Theo niềm tin của Hội Thánh, Cựu Ước phải được coi như là một phần của bộ Kinh Thánh duy nhất của các Kitô hữu, vì nhìn nhận các giá trị thường hằng của Cựu Ước và tương quan nối  hai Giao ước [59]. Tất cả những điều này lôi kéo theo nhu cầu có một nền huấn luyện cấp bách để đọc Cựu Ước theo cách Kitô giáo. Trong việc này, chúng ta được giúp đỡ bởi cách thực hành trong Phụng vụ, vì Phụng vụ luôn luôn công bố Cựu Ước như một trang chủ yếu giúp hiểu toàn vẹn Tân Ước, như chính Đức Giêsu đã chứng thực trong câu truyện Emmau, trong đó có nói rằng « bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh » (Lc 24,27). Các bài đđọc phụng vụ lấy từ Cựu Ước còn cung cấp một lộ trình quý báu giúp gặp gỡ cách hữu cơ và mạch lạc với Bản văn thánh. Lộ trình này hệ tại một trật trong  việc sử dụng thánh vịnh mời gọi cầu nguyện và suy ngẫm những gì đã được loan báo, và trong việc đưa lại gần về đề tài giữa bài đọc thứ nhất và Tin Mừng, trong viễn tượng là tổng hợp Mầu nhiệm Chúa Kitô. Quả thật, theo câu tục ngữ cổ, Tân Ước được cất giấu trong Cựu Ước, còn Cựu Ước được vén mở trong Tân Ước: Novum in Vetere latet et in Novo Vetus patet [60].

Thánh Grêgôriô khẳng định: « Điều mà Cựu Ước đã hứa, Tân Ước đã cho thấy; điều đã được loan báo cách che đậy, nay được công bố không giấu giếm như đang hiện diện. Như thế, Cựu Ước là lời tiên tri về Tân Ước ; và lời bình giải tốt nhất của Cựu Ước hệ tại Tân Ước » [61].

Còn về Tân Ước, khối sách chắc chắn hôm nay rất quen thuộc về mặt thực hành Kinh Thánh, điều đó cũng là nhờ sự phong phú của các sách Bài đọc và Các Giờ Kinh Phụng Vụ, cần phải nhắc lại giá trị trung tâm của các Tin Mừng; do đó các Tin Mừng được công bố trọn vẹn dọc theo ba năm của chu kỳ phụng vụ chúa nhật, và mỗi năm theo các ngày thường, nhưng cũng không được quên giáo huấn quan trọng của thánh Phaolô và các Tông đồ khác [62].

Câu hỏi : Chương I

1. Hiểu biết Lời Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ

Các tín hữu (các giáo xứ, các cộng đoàn tu sĩ, các phong trào) có những ý tưởng gì về Mạc khải, Lời Thiên Chúa, Kinh Thánh, Thánh Truyền và Huấn quyền ? Họ có biết các cấp độ khác nhau về ý nghĩa của Lời Thiên Chúa không ? Đức Giêsu Kitô có được hiểu như là ở tại trung tâm của Lời Thiên Chúa không ? Đâu là tương quan giữa Lời Thiên Chúa và Kinh Thánh ? Đâu là những phương diện ít được hiểu nhất ? Tại sao ?

2. Lời Thiên Chúa trong Hội Thánh

Trong mức đọ nào việc tiếp cận với Lời Thiên Chúa phát triển ý thức sống động là thuộc về Hội Thánh, Thân Thể Chúa Kitô, và động viên nhằm sứ vụ Hội Thánh chân chính ? Tương quan giữa Lời Thiên Chúa và Hội Thánh được hiểu thế nào ? Một tương quan đúng đắn giữa Kinh Thánh và Thánh Truyền có được duy trì trong nghiên cứu chú giải và thần học và trong các cuộc gặp gỡ với Sách Thánh không ? Huấn giáo có được hướng dẫn bởi Lời Thiên Chúa không ? Huấn giáo có đánh giá cao Kinh Thánh không ? Tầm quan trọng và trách nhiệm của Huấn quyền trong việc công bố Lời Thiên Chúa được hiểu thế nào ? Có việc lắng nghe Lời Thiên Chúa cách trung thực trong đức tin không ? Đâu là những phương diện cần làm sáng tỏ và củng cố ?

3. Các dấu chỉ cho thấy niềm tin của Hội Thánh vào Lời Thiên Chúa

Dei Verbum đã được đón nhận như thế nào? Và sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo thì sao? Đâu là vai trò giáo huấn chuyên biệt của các giám mục trong công việc tông đồ Lời Thiên Chúa ? Đâu là nhiệm vụ của các thừa tác viên đã có chức thánh, các linh mục và phó tế, trong việc công bố Lời Thiên Chúa (x. GH 25.28) ? Đâu là tương quan phải cứu xét giữa Lời Thiên Chúa và đời sống thánh hiến ? Lời Thiên Chúa nằm trong công việc đào tạo các linh mục tương lai như thế nào ? Dân Thiên Chúa cần những định hướng nào về quan hệ với Lời Thiên Chúa, và đặc biệt các linh mục, các phó tế, những người sống đời thánh hiến và các giáo dân?

4. Kinh Thánh, Lời Thiên Chúa

Vì sao các Kitô hữu tìm kiếm Kinh Thánh ngày hôm nay ? Kinh Thánh mang lại gì cho đời sống đức tin ? Kinh Thánh được đón tiếp thế nào trong thế giới không phải Kitô hữu ? Và trong số những người có văn hóa ? Ta có thể nói đến một tiếp cận ngày càng đúng đắn hơn với Kinh Thánh không ? Đâu là những khiếm khuyết thường thấy nhất ? Đặc sủng linh hứng và chân lý Kinh Thánh được hiểu như thế nào ? Người ta có quan tâm đến ý nghĩa thiêng liêng của Kinh Thánh như là nghĩa tối hậu Thiên Chúa muốn không ? Cựu Ước được đón nhận như thế nào ? Nếu cho rằng các Tin Mừng được tham khảo nhiều hơn, ta có thể nói rằng người ta đã hiểu biết và đã đọc các Tin Mừng đủ chăng ? Đâu là những trang Kinh Thánh hôm nay được coi như là « khó nhất » và cần phải đương đầu ?

5. Niềm tin vào Lời Thiên Chúa

Đâu là những thái độ của các tín hữu khi đứng trước Lời Thiên Chúa ? Lời Thiên Chúa có được lắng nghe với một đức tin cao độ, với mục đích là làm phát sinh đức tin không ? Đâu là những lý do đưa tới việc đọc Kinh Thánh ? Có thể nêu ra các tiêu chuẩn biện phân liên hệ đến việc tín hữu tiếp nhận Lời Thiên Chúa chăng ?

6. Đức Maria và Lời Thiên Chúa

Tại sao Đức Maria lại là nhà giáo dục và là thân mẫu trong việc lắng nghe Lời Thiên Chúa ? Mẹ đã tiếp nhận và sống Lời Thiên Chúa như thế nào ? Theo cách nào Đức Maria có thể là một mẫu gương cho người Kitô hữu lắng nghe, suy ngẫm và sống Lời Thiên Chúa ?

-----------------------------------------------------------------------------

[10] Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 2.
[11] Nt.
[12] Nt.
[13] X. nt.
[14] Sách Lễ Rôma, Editio typica tertia, Typis Vaticanis, Città del Vaticano 2002, Institutio generalis, s. 368.
[15] Đức Phaolô VI, Lettre au IVème Congrès national français de l'enseignement religieux (01-03.04.1964): La Documentation Catholique số 1422 (19.04.1964), tr. 503.
[16] T. Grêgôriô Cả, Moralia, 20,63: CCL 143A, 1050.
[17] Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 3.
[18] T. Ephrem, Hymni de paradiso, V,1-2: SC 137,71-72.
[19] Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 4.
[20] T. Irênê, Adversus Hỉreses IV,34,1: SC 100,847.
[21] Origiênê, In Ioannem V,5-6: SC 120, 380-384.
[22] X. T. Bênađô, Super Missus est, Homilia IV,11: PL 183,86.
[23] Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 3.
[24] X. nt, 24.
[25] X. nt, 4.
[26] Nt, 5.
[27] Nt.
[28] X. nt, 2; 5.
[29] Nt, 2.
[30] Nt, 21.
[31] Isaac tu viện Sao sáng, Sermo 51: PL 194,1862-1863.1865.
[32] X. T. Ambrôsiô, Evang. secundum Lucam 2,19: CCL 14,39.
[33] Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 7.
[34] X. nt, 26.
[35] Nt, 8; x. 21.
[36] X. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, 825.
[37] Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 8.
[38] Nt, 7.
[39] Nt, 10.
[40] Nt, 9; x. Công đồng Triđentinô, Sắc lệnh de libris sacris et de traditionibus recipiendis: DS 1501.
[41] Nt, 10.
[42] Nt, 8.
[43] Nt, 21.
[44] X. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, 120.
[45] X. Joseph Ratzinger, Une tentative sur le problème du concept de tradition: K. Rahner - J. Ratzinger, Révélation et tradition, trad. de l'allemand par Henri Rochais et Jean Évrard, Quaestiones disputatae, n. 7, Desclée de Brouwer, Paris 1972.
[46] Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 9; x. 24.
[47] Nt, 21.
[48] Nt, 11.
[49] X. Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng, Việc giải thích Kinh Thánh trong Hội Thánh (15.04.1993), ch. I, C.D: Enchiridion Vaticanum 13, EDB, Bologna 1995, tr. 1555-1733.
[50] Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, cc. 3-6.
[51] X. Đức Gioan-Phaolô II, Thông điệp Fides et ratio (14.09.1998), 13-15: AAS 91 (1999) 15-18.
[52] X. Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng, Việc giải thích Kinh Thánh trong Hội Thánh (15.04.1993) ch. I,F: Enchiridion Vaticanum 13, Bologna 1995, tr. 1628-1634.
[53] X. nt, ch. IV, A.B, tr. 1703-1715.
[54] X. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, 117.
[55] X. Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng, Việc giải thích Kinh Thánh trong Hội Thánh (15.04.1993) ch. I: Enchiridion Vaticanum 13, EDB, Bologna 1995, tr. 1568-1634.
[56] Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 12; x. Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, 109-114.
[57] Đức Bênêđictô XVI, Diễn từ cho các giám mục Thụy-sĩ (07.11.2006): L'Osservatore Romano (10.11.2006) tr. 4.
[58] Sách Lễ Rôma, Ordo lectionum Missae: Editio typica altera, Libreria Editrice Vaticana, Città del Vaticano 1981: Praenotanda, số 8.
[59] X. Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 15-16.
[60] X. T. Âutinh, Quaestiones in Heptateucum, 2,73: PL 34,623; x. Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 16.
[61] T. Grêgôriô Cả, In Ezechielem, I,6,15: CCL 142,76.
[62] X. Công đồng Vat. II, Hiến chế tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, 18-19; x. Đức Gioan-Phaolô II, Buổi tiếp kiến chung (22.05.1985): L'Osservatore Romano, E.H.L.F. (28.05.1985) số 22, tr. 6.

su-diep-duc-thanh-cha-gui-cac-tu-hoi-doi
Sứ điệp Đức Thánh Cha gửi các tu hội đời

ĐTC kêu gọi các thành viên các tu hội đời hãy mang vào trần thế, vào những hoàn cảnh mình sinh sống, lời đã lắng nghe từ Thiên Chúa. Ngài đưa ra lời mọi gọi trên đây trong sứ điệp gửi các tham dự Hội nghị các tu hội đời Italia, nhóm tại Học Viện Augustinianum ở Roma trong hai ngày 28 và 29-10-2017 nhân dịp kỷ niệm 70 năm Tông hiến ”Provida Mater Ecclesiae” (Mẹ quan phòng của Giáo Hội), do ĐGH Piô 12 ban hành về các tu hội đời.

su-diep-cua-hoi-dong-toa-thanh-ve-doi-thoai-lien-ton-gui-cac-tin-do-an-giao-nhan-le-deepavali-nam-2017
Sứ điệp của Hội đồng Toà Thánh về Đối thoại Liên tôn gửi các tín đồ Ấn giáo nhân Lễ Deepavali năm 2017

Nhân dịp Lễ Deepavali hằng năm của Ấn giáo, còn gọi là Diwali (Lễ hội Ánh sáng) – năm nay được cử hành vào ngày 18 hay 19 tháng Mười 2017 tại nhiều vùng của Ấn Độ –, Hội đồng Toà Thánh về Đối thoại Liên tôn đã gửi sứ điệp chúc mừng các cộng đoàn tín đồ Ấn giáo trên toàn thế giới. Chủ đề của sứ điệp năm nay là “Kitô hữu và tín đồ Ấn giáo: Vượt xa hơn lòng bao dung”. Lễ này đánh dấu ngày khởi đầu năm mới trong lịch Ấn giáo.

tom-tat-su-diep-cua-duc-phanxico-ve-ngay-the-gioi-nguoi-ngheo
Tóm tắt sứ điệp của Đức Phanxicô về Ngày Thế giới Người nghèo

Điểm khởi đầu của sứ điệp mang tính thần học: Chúa yêu chúng ta đầu tiên. Chúng ta tất cả đều được Chúa yêu thương. Vì thế, để đáp trả tiếng gọi đầu tiên này, đến lượt mình, chúng ta phải yêu thương lại. Một tình yêu cụ thể. Đức tin đòi hỏi phải có hành động. Phục vụ những người nghèo nhất là biểu hiệu của người tín hữu kitô. Chính vì vậy mà từ rất lâu, tín hữu kitô được biết qua những công việc này.

tu-sac-moi-lap-hoc-vien-gioan-phaolo-2-hon-nhan-gia-dinh
Tự sắc mới lập Học Viện Gioan Phaolô 2 hôn nhân gia đình

Tự sắc mới mang tựa đề ”Summa Familiae cura” (Săn sóc tối đa cho gia đình), mang chữ ký của ĐTC ngày 8-9 vừa qua và bắt đầu có hiệu lực từ ngày đăng trên báo ”Quan sát viên Roma” tức là từ ngày hôm qua 19-9-2017. Học viện mới thay thế cho Giáo Hoàng Học Viện Gioan Phaolô 2 về Hôn nhân và gia đình được lập và hoạt động cạnh Giáo Hoàng Đại Học Laterano ở Roma.

duc-thanh-cha-phanxico-ban-hanh-tu-sac-ve-van-de-dich-cac-ban-van-phung-vu
Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành Tự sắc về vấn đề dịch các bản văn phụng vụ

Hôm thứ Bảy 9 tháng Chín 2017, Phòng Báo chí Toà Thánh đã công bố một Tông thư dưới hình thức Tự sắc của Đức Thánh Cha Phanxicô, sẽ bắt đầu áp dụng vào ngày 1 tháng Mười sắp tới. “Tông thư ban hành theo dạng Tự sắc Magnum Principium qua đó một số điểm của Điều 838 trong Bộ Giáo luật được sửa đổi” được Đức Thánh Cha ký ngày 03-09-2017, nhằm sửa đổi Điều 838 của Bộ Giáo luật về vấn đề dịch các bản văn phụng vụ sang các ngôn ngữ bản địa.

su-diep-video-cua-duc-thanh-cha-gui-nhan-dan-colombia
Sứ điệp Video của Đức Thánh Cha gửi nhân dân Colombia

ĐTC kêu gọi nhân dân Colombia trở thành những người xây dựng hòa bình và hòa giải, đi bước đầu trong việc bắc những nhịp cầu và kiến tạo tình huynh đệ. Lời kêu gọi trên đây được ĐTC đưa ra trong sứ điệp Video gửi toàn dân Colombia phổ biến hôm 4-9-2017... ”Ước gì cuộc viếng thăm này là một vòng tay ôm huynh đệ đối với mỗi người trong anh chị em và họ cảm thấy niềm an ủi và dịu dàng của Chúa”.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.