CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG

Với Chúa Nhật I Mùa Vọng, chúng ta bước vào năm Phụng Vụ mới, năm B. Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật I Mùa Vọng nầy hướng lòng chúng ta trông đợi ngày Chúa đến.

Is 63: 16b-17, 19b; 64: 2b-7

Bài Đọc I trích từ lời khẩn nguyện của ngôn sứ I-sai-a đệ tam. Sau cuộc lưu đày tại Ba-by-lon, dân Do thái hân hoan trở về quê cha đất tổ. Nhưng họ sớm ngã lòng trước thức tế muôn vàn khó khăn, vì thế ngôn sứ I-sai-a đệ tam, nhân danh dân Ít-ra-en, khẩn khoản nài xin Thiên Chúa xé trời mà ngự xuống, can thiệp vào lịch sử của dân Ngài. Trong suốt Mùa Vọng, Giáo Hội hiểu rằng Thiên Chúa, trong Đức Giê-su Ki-tô, đã thực sự ngự đến, xé tan mây trời để ban mưa hồng ân xuống trên cõi thế. Giáo Hội tin tưởng vững vàng Thiên Chúa đã can thiệp vào lịch sử nhân loại rồi.

1Cr 1: 3-9 

Bài Đọc II trích từ thư thứ nhất gởi tín hữu Cô-rin-tô, trong đó thánh Phao-lô vui mừng tạ ơn Thiên Chúa vì qua Đức Giê-su Ki-tô Thiên Chúa đã ban cho các tín hữu Cô-rin-tô muôn vàn ơn phúc trong lúc chờ đợi Chúa lại đến.

Mc 13: 33-37

Trong Tin Mừng, Đức Giê-su loan báo Ngài sẽ trở lại vào lúc bất ngờ không ai biết trước được và mời gọi hãy luôn luôn sống trong tư thế sẵn sàng đón tiếp Ngài.

 BÀI ĐỌC I (Is 63: 16b-17, 19b; 64: 2b-7)

 Bản văn nầy bao gồm hai đoạn trích dẫn từ lời khẩn nguyện mà ngôn sứ I-sai-a đệ tam nhân danh toàn thể cộng đồng ngỏ lời với Thiên Chúa. Tách ra khỏi bối cảnh thực tế của nó, lời khẩn nguyện nầy nói lên nỗi xao xuyến muôn thuở của nhân loại trong cảnh khốn cùng trước sự im lặng của Thiên Chúa như thử Ngài chẳng hề quan tâm đến cuộc sống con người.

Cộng đồng đang phải chịu thử thách này là cộng đồng Giê-ru-sa-lem hồi hương trở về quê cha đất tổ sau thời kỳ lưu đày dài lâu ở Ba-by-lon. Vua Ba tư là Ky-rô, sau khi chiếm kinh thành Ba-by-lon vào năm 539 trước Công Nguyên, năm sau đó đã cho phép những người lưu đày hồi hương. Sau khi trở về, những người nầy phải đối mặt với biết bao khó khăn trong cuộc sống, nhất là đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, cảnh Đền Thờ hoang tàn đổ nát trơ gan cùng tế nguyệt gần một nữa thế kỷ qua. Họ toan tính bắt tay vào việc tái thiết Đền Thờ, nhưng lực bất tòng tâm. Thêm nữa, gặp phải sự chống đối của những người địa phương và nhất là sự ngăn cản có hệ thống của dân Sa-ma-ri buộc họ phải bỏ dỡ dự án. Ấy vậy, Đền Thờ chính là dấu chỉ việc Đức Chúa hiện diện ở giữa dân Ngài. Phải chăng Thiên Chúa đã thực sự bỏ rơi dân Ngài? Lòng nhiệt thành của những ngày đầu tiên nhường chỗ cho nỗi thất vọng ê chề đắng cay.

Ở giữa họ, một vị ngôn sứ vô danh, được gọi I-sai-a đệ tam, củng cố niềm tin của họ và hướng dẫn lời cầu nguyện của họ. Chính lúc đó, bằng ngòi bút của mình, ông đã viết nên lời khẩn nguyện nầy như phương thế cuối cùng.

  1. “Lạy Đức Chúa, Ngài mới là Cha”.

“Còn Ngài, lạy Đức Chúa, Ngài mới là Cha,

là Đấng cứu độ chúng con:

đó là danh Ngài từ muôn thuở” (63: 16b).

Lời khẩn nguyện với “Thiên Chúa là Cha” ở đây là độc nhất trong toàn bộ Cựu Ước. Chúng ta không gặp thấy như vậy trong các Thánh Vịnh, Thánh Thi hay trong những lời cầu nguyện của Cựu Ước. Trong đoạn trích hôm nay, lời khẩn nguyện với “Thiên Chúa là Cha” được lập đi lập lại đến hai lần (63: 16b và 64: 7).

Thật ra, tình phụ tử của Thiên Chúa là một khái niệm phổ biến và thường được nhắc đi nhắc lại: Thiên Chúa là Cha vì Ngài là Đấng Tạo Hóa; Thiên Chúa là Cha vì Ngài đã chọn dân Ít-ra-en làm “con của mình” (Đnl 32: 6). Nhưng danh xưng nầy chưa bao giờ được gặp thấy trong các lời cầu nguyện. Thật đáng lưu ý khi sự kiện nầy đột nhiên xảy đến sau cuộc lưu đày được xem như một sự thanh tẩy lớn lao. Vì thiếu nơi phụng tự và dâng hy lễ, những người lưu đày đã nội tâm hóa tâm tình tôn giáo của mình. Mối quan hệ của họ với Thiên Chúa không còn hời hợt bên ngoài ở nơi các nghi thức phụng tự, nhưng đã đạt đến chỗ tâm giao mật thiết: “Thiên Chúa là Cha chúng con”.

  1. “Đấng cứu chuộc chúng con”.

Danh xưng “Đấng cứu chuộc” được dịch từ nguyên ngữ Do thái: go’el, từ ngữ nầy có một ý nghĩa chính xác, nhưng khó lĩnh hội, vì chúng ta không gặp thấy từ ngữ tương đương trong các định chế của chúng ta. Từ Go’el chỉ một người thân thuộc có phận sự bênh vực thân nhân của mình bị xúc phạm hay bị áp bức, chuộc lại người thân bị sa vào cảnh đời nô lệ (nhất là trong trường hợp nô lệ vì nợ nần), đồng thời đảm nhận trọng trách báo thù (đây là vai trò hàng đầu vào thời du mục). Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị (vị ngôn sứ của thời lưu đày) đã thường nhắc nhớ rằng Đức Chúa là go’el của dân Ngài, Ngài sẽ chuộc lại dân khỏi cảnh đời nô lệ tại Ba-by-lon. Sau khi trở về, danh xưng nầy được lập đi lập lại thông thường trên môi miệng của những người hồi hương.

  1. “Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống…”

“Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống,

cho núi non rung chuyển trước Thánh Nhan” (63: 19b).

Lời khẩn nguyện xin này ám chỉ rất rõ nét đến việc Thiên Chúa tỏ mình trên núi Xi-nai trong cảnh tượng hùng vĩ: núi non rung chuyển dữ dội và khói tỏa mây mù bao phủ đỉnh núi. Dân Ít-ra-en đã thường hoài niệm những giây phút đặc ân nầy. Phải chi Thiên Chúa lại ngự xuống để tái thiết Đền Thờ và Thành Thánh!

  1. “Ngài đã ngự xuống…”

Bất ngờ, các động từ chỉ hành động của Thiên Chúa được chuyển sang quá khứ:

“Ngài đã ngự xuống, núi non đã rung chuyển trước Thánh Nhan.

Người ta chưa nghe nói đến bao giờ,

tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy

có vị thần nào, ngoài Chúa ra,

đã hành động như vậy cho kẻ trông cậy nơi mình.

Ngài đã đón gặp kẻ sống đời công chính mà lấy làm vui

và nhớ đến Ngài khi theo đường lối Ngài chỉ dạy” (64: 2b-4a).

Ở đây, bản văn được chuyển sang quá khứ theo bản dịch La-tin của thánh Giê-rô-ni-mô, được gọi “Bản Phổ Thông” (Vulgata). Theo thánh nhân, nguyên bản Do thái ở thể nguyện ước phải được hiểu như chuyện đã xảy ra, bởi vì ước nguyện của vị ngôn sứ đã xảy ra rồi. Trời đã bị xé ra, Thiên Chúa đã đáp ứng nỗi mong chờ của con người vượt quá mọi niềm hy vọng, Ngài đã trở thành một người ở giữa họ. Đối với chúng ta, như đối thánh Giê-rô-ni-mô, lời nguyện ước của vị ngôn sứ đã được ứng nghiệm ở nơi biến cố Nhập Thể của Đức Giê-su Ki-tô.

Sau khi sửa đổi lời khẩn nguyện cho phù hợp với hoàn cảnh niềm tin hiện nay của mình, thánh nhân tiếp tục tiếp tục như bản gốc: lời ca ngợi Thiên Chúa xen lẫn với lời trách cứ vì Ngài “bỏ rơi” dân Ngài, nhưng cũng khiêm tốn thú nhận lỗi lầm và bày tỏ niềm tin tưởng. Một lần nữa Thiên Chúa được ngỏ lời: “Lạy Đức Chúa, Ngài là Cha chúng con” (64: 7).

Bài Đọc I chấm dứt với hình ảnh Thiên Chúa là người thợ gốm, ám chỉ đến chuyện tích sáng tạo cổ kính ở chương 2 của sách Sáng Thế. Hình ảnh Thiên Chúa như người thợ gốm nhào đất sét nắn nên con người trên chiếc bàn xoay thuộc về gia sản thần thoại của những nền văn hóa thời xưa. Hình ảnh nầy diễn tả việc Thiên Chúa gắn bó với công trình của Ngài. Có một sự đối nghịch giữa “quyền lực của Ác thần” nhằm tiêu diệt con người và quyền lực của Đấng Tạo Hóa, Đấng làm cho con người, vốn đất sét mõng dòn yếu đuối, trở thành kiên trung bền vững khi Ngài tha thứ tội lỗi cho họ.

BÀI ĐỌC II (1Cr 1: 3-6)

Bài Đọc II trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô, trong đó thánh nhân đề cập đến nỗi mong chờ của người Ki-tô hữu vào “ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta”.

1.“Ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta”:

Chúng ta lưu ý rằng thánh Phao-lô thay đổi kiểu nói quen thuộc của các ngôn sứ: “Ngày Đức Chúa” thành “Ngày Đức Giê-su Ki-tô”. Dưới ngòi bút của thánh nhân, Đức Chúa chính là Đức Giê-su Ki-tô và ngày Đức Chúa chính là ngày Đức Giê-su Ki-tô trở lại trong vinh quang. Trong đoạn trích ngắn nầy, thánh nhân lập lại đến ba lần: “Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta”. Những Ki-tô hữu tiên khởi, như sách Công Vụ Tông Đồ làm chứng, đã ban tước hiệu Đức Chúa nầy cho Đức Giê-su Ki-tô, như chính Ngài đã công bố: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28: 18).

2.Ngày chứa chan hy vọng:

Theo cùng viễn cảnh của các ngôn sứ: “Ngày Đức Chúa” là ngày Chung Thẩm, thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu Cô-rin-tô “nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong Ngày của Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô”. Tuy nhiên, việc người Ki-tô hữu mong đợi Chúa đến khác với dân Cựu Ước, bởi vì ngay từ bây giờ, họ được hiệp thông với Đức Ki-tô rồi; họ được sống trong Ngài rồi. Sự mong đợi của họ chứa chan niềm hy vọng, bởi vì trong niềm mong chờ của họ Ngài hiện diện ở giữa họ rồi.

TIN MỪNG (Mc 13: 33-37)

Đoạn Tin Mừng nầy được định vị ở cuối bài diễn từ dài về Cánh Chung theo thánh Mác-cô. Bài diễn từ này được Đức Giê-su ban cho các môn đệ của Ngài vài ngày trước cuộc Tử Nạn của Ngài (13: 1-37). Bài diễn từ này được đặt trong bối cảnh các môn đệ theo Ngài lên núi Ô-liu ở đó họ chiêm ngưỡng Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và thán phục vẻ huy hoàng của Đền Thánh. Trong bối cảnh đó, Đức Giê-su loan báo Đền Thờ sẽ bị phá hủy thành bình địa, và từ gợi ý nầy đến gợi ý khác, Ngài nói với các ông về những tai ương hoạn nạn sẽ đánh dấu thời tận thế, trước khi Ngài ngự đến.

Trong đoạn trích Tin Mừng hôm nay, “Đức Giê-su nói với các môn đệ của Ngài về ngày quang lâm của Người”. Đoạn trích này bắt đầu với lời khuyên của Ngài: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến” (13: 33) và kết thúc cũng với lời khuyên như vậy nhưng mở rộng ra với hết thảy mọi người: “Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!” (13: 37). Ở giữa là một dụ ngôn (13: 34-36) minh họa cho lời khuyên chủ đạo nầy.

1.Dụ ngôn:

Để lời khuyên của mình dễ hiểu, cụ thể và gây ấn tượng trên người nghe, Chúa Giê-su tự ví mình với một ông chủ trẩy đi phương xa và sẽ trở về vào một thời điểm nào đó trong đêm mà không báo trước; còn các môn đệ của Ngài thì được sánh ví với người canh cửa, phải luôn trong tư thế sẵn sàng mở mắt lắng tai để nhận ra từ xa tiếng bước chân của chủ trở về giữa đêm khuya thanh vắng. Trong cuộc sống thường ngày, ai trong chúng ta đều có kinh nghiệm: đợi một ai đó mà không báo trước vào ban ngày thì đã khó lại càng khó hơn vào ban đêm. Rõ ràng chính trong đêm mà Đức Giê-su căn dặn chúng ta phải canh thức chờ đón Ngài đến. Chắc chắn thời điểm “đêm” được nhấn rất mạnh ở đây: đêm là thời gian của bóng tối, nghĩa là môi trường của sự Ác. Người Ki-tô hữu phải cảnh giác đừng để mình sa vào những việc làm ám muội gian ác.

Chủ nhà sẽ trở về “vào lúc chập tối hay nữa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng” (13: 35). Chúng ta nhận ra ở đây đêm được chia thành bốn canh theo tập quán của người Rô-ma chứ không là ba canh như tại người Do thái (x. Lc 12: 38), còn người Việt Nam chúng ta lại phân chia “đêm năm canh, ngày sáu khắc”. Chi tiết nầy là chữ ký của thánh Mác-cô, thánh ký hiện ở Rô-ma bên cạnh thánh Phê-rô mà ông là thư ký. Thánh ký viết Tin Mừng cho cộng đoàn Ki-tô hữu Rô-ma, và rộng lớn hơn, cho thế giới chịu ảnh hưởng văn hóa Rô-ma.

2.Biểu tượng của “Đêm”.

Thánh Má-cô kết thúc đoạn Tin Mừng hôm nay với lời căn dặn của Đức Giê-su: “Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!”. Bối cảnh của toàn bộ bài diễn từ về Cánh Chung nầy là câu chuyện riêng tư của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài (13: 3-4), nhưng ở đây lời kêu gọi khẩn cấp phải tỉnh thức được gởi đến cho “hết thảy mọi người”, bởi vì sứ điệp nầy liên quan đến nhiều thế hệ theo sau nữa. Phải canh thức, phải luôn luôn trong tâm thế sẵn sàng đợi chủ trở về. Rõ ràng chính trong đêm mà người ta phải canh thức.

Các nhà chú giải nghĩ đến khoa thần bí Do thái về “Bốn Đêm” nhấn mạnh Lịch Sử thế giới. Bốn đêm được đánh dấu bởi bốn lần Thiên Chúa can thiệp dứt khoát: Đêm của công trình Sáng Tạo; đêm Thiên Chúa ký kết giao ước với ông Áp-ra-ham và hứa với ông việc sinh hạ I-xa-ác; đêm của cuộc Xuất Hành, dân Do thái vội vã rời đất Ai-cập và được cứu thoát; đêm của ơn cứu độ trong tương lai, vương quyền của Thiên Chúa ngự đến một cách mầu nhiệm. Ngoài ra, chúng ta nghĩ đến đêm Đức Giê-su cầu nguyện cũng trên chính núi Ô-liu nầy trước giờ khổ nạn của Ngài. Chính trong đêm ấy, sau khi cầu nguyện một mình, Ngài trở lại và gặp thấy các ông đang ngủ, Ngài nói với các ông: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (14: 38). 

3.Ý hướng của Giáo Hội:

Theo văn mạch của Tin Mừng Mác-cô, lời khuyên này là phần kết của bài diễn từ dài về ngày cánh chung, như vậy việc Chúa trở lại được chỉ ra ở đây là ngày Quang Lâm, ngày Chúa trở lại để phán xét thế gian, nhưng cũng được hiểu là ngày mỗi người từ giả cuộc đời này: quả thật, mọi người đều phải chết, nhưng không ai biết được mình sẽ chết vào lúc nào, vậy thái độ khôn ngoan nhất trong cuộc sống là phải luôn luôn trong tâm thế sẵn sàng chờ đón Chúa đến.

Khi chọn đoạn Tin Mừng này vào đầu Mùa Vọng, mùa mọi tín hữu sống lại tâm tình mong đợi Con Thiên Chúa giáng trần, Giáo Hội có ý hướng khác: đây là mời gọi mỗi người hãy sống trong tâm thế tỉnh thức để nhận ra sự hiện diện của Đấng đã đến và đang ở giữa chúng ta. Trong cuộc Giáng Trần, Ngài cũng đã âm thầm đến vào một đêm thanh vắng trong hình hài bé nhỏ của một hài nhi vừa mới chào đời nơi hang lừa máng cỏ Bê-lem trong vòng tay yêu thương của cha mẹ trần thế nghèo nàn của Ngài. Ngày nay cũng thế, Ngài cũng âm thầm hiện diện ở nơi những anh chị em chung quanh chúng ta, nhất là những người nghèo hèn khốn khổ, những kẻ bị bỏ rơi: “Khi Ta đói, ngươi đã cho ăn, khi Ta khát, ngươi đã cho uống, khi Ta khách lạ, ngươi đã tiếp rước, khi Ta trần truồng, ngươi đã cho mặc, khi Ta đau yếu, ngươi đã thăm viếng, Ta ngồi tù, ngươi đã đến hỏi han”.

Vì thế, trong lúc trong đợi Chúa lại đến vào thời cánh chung, gần hơn vào giờ phút từ giả cuộc đời này, và gần hơn nữa trong tâm tình chờ đón cuộc Giáng Trần của Con Thiên Chúa, mỗi người Ki-tô phải luôn trong tâm thế sẵn sàng mở mắt lắng tai để nhận ra tiếng bước chân của Ngài, Đấng đã đến và thường hằng đang đến với chúng ta ở nơi hình hài khốn khổ của những anh chị em chung quanh mình. Đức thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II đã nói “the future begins today not tomorrow” (tương lai bắt đầu hôm nay chứ không ngày mai). Quả thật, tương lai của chúng ta: được vui hưởng sự sống đời hay phải bị án phạt trầm luân, tùy thuộc vào cách thức chúng ta tiếp đón Ngài ở nơi chị em chung quanh chúng ta, nhất là những người khốn khổ, những kẻ bị bỏ rơi ngay từ hôm nay chứ không là ngày mai.