Gợi Ý Bài Giảng – Lễ Đức MA-RI-A, Mẹ Thiên Chúa

–Lm Inhaxiô Hồ Thông–

Khi tôn vinh Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta khẳng định niềm tin của chúng ta vào Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta, Ngài thật sự là Con Thiên Chúa nhưng cũng thật sự là con của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a trong biến cố Nhập Thể.

Lễ kính trọng thể “Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa” có gốc tích rất lâu đời và được phổ biến trên khắp thế giới. Trong lịch canh tân Phụng Vụ, lễ kính trọng thể Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa này được cử hành vào ngày mồng một tháng giêng, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, ngày kính nhớ việc cắt bì và đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su, nhưng cũng trùng với ngày Tân Niên, ngày đầu năm mới cầu cho hòa bình thế giới.

Đức Phao-lô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy nay được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rô-ma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Ma-ri-a góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quý đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (“Marialis Cultus”, 5).

-Ds 6: 22-27

Những lời chúc lành của tư tế nêu bật sự hiện diện thi ân và giáng phúc của Thiên Chúa, nguồn mạch của sự sống và phúc lành. Những lời chúc lành cầu xin được che chở, ân sủng và bình an: ba hồng ân tóm gọn mọi ước vọng của con người, mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể đáp ứng cách sung mãn. 

-Gl 4: 4-7

Trong đoạn thư gởi tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô khẳng định với chúng ta rằng chúng ta thực sự là nghĩa tử của Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su, Ngài là Con Thiên Chúa được sinh ra làm con của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.

-Lc 2: 16-21

Trong Tin Mừng hôm nay, thánh Lu-ca tường thuật các mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi Giê-su được Đức Ma-ri-a sinh ra trong máng cỏ là Cứu Chúa của mình.

BÀI ĐỌC I (Ds 6: 22-27)

Trong văn hóa Ít-ra-en, chúc lành không chỉ dành riêng cho giới tư tế. Tất cả những ai có quyền đều có thể chúc lành cho những người dưới quyền, chẳng hạn như người cha chúc lành cho con cái (St 27), anh em trai chúc lành cho chị em gái (St 24: 60), nhà vua chúc lành cho dân chúng (2Sm 6: 18; 1V 8: 55), tư tế chúc lành cho các tín hữu (Lv 9: 22).

Trong đoạn trích Dân Số này, “những lời chúc lành của tư tế” nêu bật sự hiện diện thi ân giáng phúc của Thiên Chúa, Ngài là nguồn mạch của Phúc, Lộc Thọ. Tư tế hành xử chỉ như người trung gian: ông kêu cầu Danh Đức Chúa, Đấng chúc lành cho con cái Ít-ra-en (6: 27). Đây là một trong những đoạn văn đẹp nhất của Ngũ Thư, về phương diện văn chương và thần học.

Đây là những lời chúc lành cổ kính nhất mà Kinh Thánh còn bảo tồn cho chúng ta. Những lời chúc lành này có nội dung giống với vài Thánh Vịnh, như Tv 31:

“Xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời

trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31: 17)

hay như Tv 67:

“Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc,

xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con” (Tv 67: 2).

Trong đoạn trích Dân Số này, những lời chúc lành, được các tư tế sử dụng trong phụng vụ Đền Thờ, gồm ba lời nguyện, mỗi lời nguyện đều bắt đầu với danh xưng Đức Chúa. Danh Thiên Chúa được kêu cầu ba lần bảo đảm với Ít-ra-en rằng sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa họ đem lại cho họ biết bao ân phúc:

– “Nguyện xin Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh (em)!”.

– “Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh (em) và dủ lòng thương anh (em)!”.

– “Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh (em)!”.

Các Giáo Phụ nhìn thấy ở nơi ba lời nguyện chúc này tiên trưng Ba Ngôi Thiên Chúa. Ba lời nguyện chúc này tóm gọn mọi ước vọng của con người, mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể đáp ứng cách sung mãn. 

Giáo Hội duy trì truyền thống chúc lành cho tín hữu trong các lễ nghi phụng vụ, nhất là vào cuối cử hành lễ Tạ Ơn, để nguyện xin Thiên Chúa tỏ cho thấy tấm lòng ưu ái của Ngài. Sách Lễ Quy Rô-ma dùng bản văn này như một trong những lời chúc lành nhiệm ý mà chủ tế có thể dùng cuối Thánh Lễ.

BÀI ĐỌC II (Gl 4: 4-7)

Trong một đoạn trích thư ngắn gởi tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô nói cho chúng ta biết chúng ta được ơn làm nghĩa tử của Thiên Chúa là công trình của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

1.Chúa Cha:

Trong công trình này, Chúa Cha là Đấng có sáng kiến và thực hiện khi sai Chúa Con đến để cứu độ chúng ta và sai Chúa Thánh Thần đến để thánh hóa chúng ta.

2.Chúa Con (4: 4-5):

Để chúng ta được nên nghĩa tử của Thiên Chúa, “khi tới hồi viên mãn, Thiên Chúa sai Con mình tới”. Đức Giê-su thật sự là Con Thiên Chúa “sinh làm con một người nữ và sống dưới Lề Luật”. Chính nhờ Con Thiên Chúa được sinh ra bởi Đức Ma-ri-a mà chúng ta trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa. Đời sống nghĩa tử của chúng ta là hoa trái của Tình yêu Thiên Chúa.

3.Chúa Thánh Thần (4: 6):

Chúa Thánh Thần, Đấng ngự trong lòng người Ki-tô hữu, đóng một vai trò đặc biệt trong “ơn nghĩa tử” của chúng ta hiện nay. Nhờ Chúa Thánh Thần thánh hóa, chúng ta trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa, và nhờ Chúa Thánh Thần tác động, chúng ta sống ơn nghĩa tử của Thiên Chúa luôn mãi. Ngoài ra, Chúa Thánh Thần còn cho chúng ta được cảm nghiệm ơn nghĩa tử này đang khi còn sống trong trần thế này: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi!”.

TIN MỪNG (Lc 2: 16-21)

Vào ngày lễ tôn vinh “Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa”, Giáo Hội mời gọi tín hữu suy gẫm sâu xa đoạn Tin Mừng Lu-ca 2: 16-21. Vì yêu thương con người, Thiên Chúa đã chọn Đức Ma-ri-a làm Mẹ của Hài Nhi Giê-su, Ngài là Thiên Chúa thật và là con người thật bất khả phân ly. Vì thế, Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa.

Đoạn Tin Mừng hôm nay tường thuật hai biến cố:

A-Mục Đồng đến thờ lạy Hài Nhi Giê-su là Cứu Chúa của mình (2: 16-20)

B-Hài Nhi Giê-su chịu phép cắt bì (2: 21)

  1. Các mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi Giê-su là Cứu Chúa của mình (2: 16-20):

Sau khi được các thiên sứ báo một tin mừng trọng đại: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Ngài là Đấng Ki-tô Đức Chúa” (2: 11) và được ban một dấu chỉ để nhận ra Ngài: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (2: 12), các mục đồng cùng nhau lên đường ngay tức khắc. Thánh Lu-ca nêu bật thái độ tích cực của các mục đồng: Thiên Chúa đã cho một dấu chỉ, phải đi kiểm chứng tức khắc và cố tìm hiểu ý nghĩa dấu chỉ của Người. Thái độ của các mục đồng nói lên biết bao bài học. Vì thế, thánh ký đã tô điểm câu chuyện này với nhiều chi tiết sống động: phản ứng của các mục đồng (2: 16-17, 20), phản ứng của những người nghe họ kể lại (2: 18) và cuối cùng là phản ứng của Đức Ma-ri-a (2: 19).

a.Phản ứng của các mục đồng (2: 16-17, 20)

Các mục đồng “liền hối hả ra đi” vì họ quá vui mừng và nôn nóng gặp Đấng Cứu Độ. Trước đây, thánh Lu-ca đã nhận xét rằng sau biến cố Truyền Tin, Đức Ma-ri-a “vội vả ra đi” để gặp bà Ê-li-sa-bét (Lc 1: 39). Một người đã mở trọn tâm hồn mình cho Thiên Chúa bước vào cuộc đời mình thì hân hoan vui mừng vì Thiên Chúa đã viếng thăm mình và cuộc sống của mình có được năng lực mới, như lời giải thích của thánh Giáo Phụ Am-rô-si-ô: “Không ai tìm kiếm Đức Ki-tô chỉ một nữa tấm lòng” (Expositio Evangelii sec. Lucam., in loc.).

Trong hoạt cảnh Giáng Sinh, thánh Lu-ca ba lần nói đến “máng cỏ”. Trong lần thứ nhất, Đức Ma-ri-a “sinh con trai đầu lòng, lấy tả bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ” (2: 7). Trong lần thứ hai, sứ thần cho các mục đồng một dấu chỉ để nhận ra Ngài: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tả, nằm trong máng cỏ”, dấu chỉ này tương phản với tin vui trọng đại mà thiên sứ đã loan báo cho họ: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em” (1: 10-12). Trong lần thứ ba của đạon Tin Mừng hôm nay, các mục đồng đến nơi “họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”. Những gì họ chứng kiến cũng tương phản với phản ứng của họ vào lúc kết thúc hoạt cảnh này: “Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh chúc tụng Thiên Chúa” (1: 20).

Tương phản nầy tiên báo một tương phản khác: bên máng cỏ nầy được bao quanh bởi ánh sáng và lời hoan ca, ẩn hiện một bóng tối, bóng tối của Đồi Sọ; vì Ngôi Lời hóa thân làm người không phải là để một ngày kia bị tra tấn, bị nhục mạ, bị đóng đinh vào thập giá đó sao? Tuy nhiên, trong mạch văn, Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ, tự đặt mình vào số những người nghèo, khiêm hạ và bé nhỏ này: dấu chỉ để nhận ra Ngài đó là “một trẻ sơ sinh bọc tả, nằm trong máng cỏ”. Chiếc tã đầu đời của Ngài là chiếc khăn trùm đầu một nắng hai sương của Mẹ Ngài và máng cỏ cho bò lừa ăn là chiếc nôi đầu đời của Ngài, đó là dấu chỉ cho những mục đồng nghèo khổ và bị khinh miệt này nhận ra được Đấng Cứu Thế đã đến: con trẻ sơ sinh này sẽ là Đấng sau này đón tiếp những kẻ tội lỗi và đồng bàn với họ (15: 2). Thiên Chúa đã ưu ái những người phận hèn bé mọn (x. Cn 3: 32).

Các mục đồng lên đường đến Bê-lem theo dấu chỉ mà các sứ thần đã loan báo cho họ. Và sau khi đã kiểm chứng, “họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này”. Các mục đồng là những chứng nhân đầu tiên về cuộc Giáng Sinh của Đấng Cứu Độ. “Các mục đồng không hài lòng tin vào biến cố hạnh phúc mà thiên sứ công bố cho họ và đầy kinh ngạc, họ đã chứng kiến tận mắt; họ đã bày tỏ niềm vui của mình không chỉ với Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se nhưng cho mọi người và, còn hơn nữa, họ cố gắng ghi khắc biến cố này trong tâm khảm của họ” (Photius, Ad Amphilochium, 155).

Ở nơi dáng dấp của các mục đồng, thành Lu-ca phác họa chân dung của những người Ki-tô hữu: “Họ liền hối hả ra đi” (2: 16) và “Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt  thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ” (1: 20).

b.Phản ứng của những người nghe các mục động kể lại (2: 18)

Đấng được các ngôn sứ loan báo biết bao lần và được dân Ít-ra-en chờ đợi từ lâu lắm rồi, nay vào trong lịch sử con người một cách bất ngờ nhất và kín đáo nhất, vì thế, “khi nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên”“Tại sao không kinh ngạc cho được, khi thấy trên cõi thế Đấng ở trên cõi trời, và đất và trời được hòa giải; khi thấy Hài Nhi khôn tả liên kết điều gì là trời – thần tính – và điều gì là đất – nhân tính – sáng tạo một giao ước kỳ diệu qua sự hiệp nhất này. Không chỉ họ kinh khiếp trước mầu nhiệm Nhập Thể, nhưng cũng trước lời chứng vĩ đại mà các mục đồng làm chứng, những người đã không thể bịa ra điều gì họ đã không nghe và công bố một cách hùng hồn sự thật” (Photius, Ad Amphilochium, 155).

Để nhận ra Ngài trong mầu nhiệm tự hạ này, phải có một tâm hồn nghèo khó, lột bỏ khỏi mọi thiên kiến. Thánh Lu-ca là thánh ký về đức nghèo khó. Những mục đồng là những kẻ bị liệt ra ngoài lề xã hội, những kẻ mà các tiến sĩ Luật nghi ngờ về đời sống đạo hạnh của họ, vì nghề nghiệp của họ không cho phép họ tuân giữ ngày sa-bát và tham dự thường xuyên kinh nguyện trong các hội đường. Chính ở nơi những tín đồ không ngoan đạo này mà lời loan báo đầu tiên về Triều Đại Mê-si-a được gởi đến. Chúng ta nhận ra cách thức của Thiên Chúa. Đức Giê-su sẽ hớn hở vui mừng và ngợi khen Cha Ngài “vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Lc 10: 21).

c.Phản ứng của Đức Ma-ri-a (2: 19)

Thánh Lu-ca ghi nhận nhân cách quý báu của Đức Ma-ri-a: “Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Qua ghi nhận này, thánh Lu-ca vén mở cho chúng ta một trong những nguồn của sách Tin Mừng mang tên thánh ký. Thánh Lu-ca đã tô điểm chuyện tích Giáng Sinh với nhiều chi tiết thần linh, nhưng khởi đi từ những sự kiện mà ông đã gìn giữ từ chính Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Mẹ hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng để cố hiểu hơn nữa mầu nhiệm của Con Mẹ.

Lời ghi nhận này, được lập lại đến hai lần (ở đây và ở 2: 51), nói với chúng ta nhiều điều về Đức Mẹ. Với thái độ cung kính, Mẹ chiếm ngắm những điều kỳ diệu được hiện thực ở nơi cuộc Giáng Trần của Con Thiên Chúa và cũng là con của Mẹ. Mẹ đã gẫm suy chúng, chiêm ngắm chúng và cất giữ chúng vào trong cõi thinh lặng của tấm lòng Mẹ. Mẹ là Bậc Thầy đích thật của cầu nguyện. “Đức Ma-ri-a sử dụng cả ba năng lực quan trọng của con người. Đức Ma-ri-a ghi nhớ tất cả những gì đã nghe, đó là ký ức. Đức Ma-ri-a suy nghĩ về các điều đó, tức là dùng lý trí. Đức Ma-ri-a suy nghĩ trong lòng, tức là dùng tình cảm, vì xúc động. Ký ức, lý trí, tình cảm đều được dùng để ứng xử với những gì đã nghe” (“Nước Suối Giữa Sa Mạc”, 84).

Nếu chúng ta noi gương Mẹ, nếu chúng ta gìn giữ và suy đi nghĩ lại trong lòng mình điều gì mà Đức Giê-su nói với chúng ta và điều gì Ngài làm trong chúng ta, chúng ta thật sự bước trên đường thánh thiện Ki-tô giáo và chúng ta sẽ không bao giờ thiếu đạo lý của Ngài và ân sủng của Ngài. Cũng vậy, bằng việc chiêm niệm theo cách thức này về giáo huấn Đức Giê-su đã cho chúng ta, chúng ta sẽ đạt được một sự hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm của Đức Ki-tô như Giáo Huấn của Công Đồng Va-ti-can II: “Thánh Truyền do các Tông Đồ truyền lại được tiến triển trong Giáo Hội dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Thật vậy, các sự việc và lời nói truyền lại được hiểu biết thấu đáo hơn, nhờ sự chiêm ngắm và học hỏi của các tín hữu, những người đã ghi nhận các điều đó trong lòng (x. Lc 2: 19 và 51); nhờ sự thông hiểu những điều thiêng liêng họ cảm nghiệm được, hoặc nhờ những việc giảng dạy của những người lãnh nhận một đoàn sủng chắc chắn về chân lý, do việc kế vị trong chức Giám Mục. Nói cách khác, qua bao thế kỷ Giáo Hội luôn hướng tới sự viên mãn của chân lý Thiên Chúa, cho đến khi lời Chúa được hoàn tất nơi chính Giáo Hội” (Vatican II, Dei Verbum, 8).

B.Hài Nhi Giê-su chịu phép cắt bì (2: 21)

Phép cắt bì là một nghi thức được Thiên Chúa thiết lập để xác định những ai thuộc về dân Chúa chọn. Người đã truyền lệnh cho ông Áp-ra-ham thiết định phép cắt bì như một dấu chỉ Giao Ước mà Người đã ký kết với ông và tất cả dòng dõi của ông (x. St 17: 10-14), khi quy định rằng con trẻ sẽ chịu phép cắt bì vào ngày thứ tám sau khi sinh. Nghi thức được thực hiện ở tại tư gia hay ở hội đường, kèm theo những kinh nguyện và việc đặt tên cho con trẻ. Khi chấp nhận sinh ra trong một gia đình Do thái, Đức Giê-su cũng tuân theo định chế này: “Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su”:

Với định chế Phép Rửa Ki-tô giáo, lệnh truyền cắt bì không còn được áp dụng nữa. Ở Công Đồng Giê-ru-sa-lem (x. Cv 15: 1tt.), các Tông Đồ dứt khoát công bố rằng những ai gia nhập Giáo Hội không cần phải chịu phép cắt bì. Thánh Phao-lô dạy cách minh nhiên rằng phép cắt bì không còn thích đáng trong bối cảnh của Giao Ước Mới được Đức Ki-tô thiết lập (Gl 5: 2tt.; 6: 12tt.; Cl 2: 11tt.).

Tên Giê-su có nghĩa “Đức Chúa cứu độ” hay “Đức Chúa là ơn cứu độ”, tức là, “Đấng Cứu Độ”. Tên này được ban cho Hài Nhi không như thành quả của bất cứ quyết định phàm nhân nào nhưng tuân theo lệnh truyền của Thiên Chúa mà sứ thần đã truyền đạt cho Đức Trinh Nữ và thánh Giu-se (x. Lc 1: 31; Mt 1: 21).

LỄ HIỂN LINH

 Lễ Hiển Linh mời gọi chúng ta suy niệm về Giáo Hội, Bí Tích Hiệp Nhất toàn thể gia đình nhân loại chung quanh Hài Nhi Giê-su, Đấng Cứu Độ của mình.

Is 60: 1-6

Ngôn sứ I-sai-a loan báo hình ảnh vinh quang của Giê-ru-sa-lem mới, tiên trưng Giáo Hội: “Muôn dân muôn nước sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước”.

Ep 3: 2-3a, 5-6

Thánh Phao-lô có sứ mạng loan báo “mầu nhiệm giữ kín từ muôn thuở ở nơi Thiên Chúa” nay được tỏ lộ, đó là muôn dân muôn nước trên khắp toàn cõi địa cầu đều được kêu mời họp thành một dân tộc duy nhất là Giáo Hội, trở nên một thân thể duy nhất là Nhiệm  Thể Đức Giê-su Ki tô.

Mt 2: 1-12

Từ một hiện tượng thiên nhiên: ánh sao lạ, đến Mặc Khải: Lời Chúa, các nhà chiêm tinh, tiên trưng Giáo Hội, được soi lối chỉ đường đến thờ lạy Chúa Hài Nhi, Đấng Cứu Độ trần gian.

BÀI ĐỌC I (Is 60: 1-6)

Các ngôn sứ Cựu Ước đều đã công bố sứ mạng phổ quát của thành thánh Giê-ru-sa-lem. Các ngài đã mở rộng những viễn cảnh của dân Ít-ra-en vượt qua chủ nghĩa quốc gia và nhấn mạnh một trong những yêu sách mà ơn gọi của họ đòi hỏi: phải là ánh sáng cho muôn dân muôn nước.

Bản văn Cựu Ước được chọn để mừng lễ Hiển Linh trích từ tác phẩm của một trong số các ngôn sứ nầy. Ông là vị ngôn sứ vô danh, môn đệ của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị (Is 40-55), vì thế người ta gọi ông là I-sai-a đệ tam (Is 56-66). Ông thi hành sứ vụ của mình ở Giê-ru-sa-lem giữa những năm 537-520, nghĩa là sau cuộc hồi hương trở về từ cuộc lưu đày ở Ba-by-lon.

1.Vinh quang của Thành Đô Giê-ru-sa-lem mới (60: 1-2).

Ông loan báo sứ điệp đầy tin tưởng và lạc quan để an ủi cộng đoàn đang chán chường và thất vọng.

Cuộc trở về quê cha đất tổ đã đem lại một tinh thần phấn chấn cho những người hồi hương; nhưng rồi sớm vỡ mộng. Thành Thánh Giê-ru-sa-lem bần cùng và thưa thớt người, chẳng khác gì một làng quê. Cảnh Đền Thờ hoang phế trơ gan cùng tế nguyệt gần năm mươi năm trôi qua. Đất đai bị những người ngoại kiều, nhất là dân Sa-ma-ri chiếm đoạt… Cuối cùng, những nổ lực tái thiết Đền Thánh bị dang dỡ.

Chính vào lúc ấy, một sấm ngôn vang lên để an ủi những ai mất can đảm. Làm thế nào phải thất vọng được chứ khi Thiên Chúa đã tỏ mình ra bằng cách cho họ được trở về quê cha đất tổ:

“Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi,

vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi.

Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân;

còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa,

 vinh quang Người xuất hiện trên ngươi

Những kẻ áp bức đã bị nghiền nát. Thành thánh Giê-ru-sa-lem được ví như “ánh sáng bừng lên”. Đức Chúa được sánh ví như “bình minh chiếu tỏa”. Những biến cố sau đó sẽ còn rực rỡ hơn nữa. Vị ngôn sứ đưa ra hai thị kiến chứa chan hy vọng.

2.Cuộc tụ họp vĩ đại (60: 3-4).

 “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi,

vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.

Đưa mắt về tứ phía mà xem, tất cả đều tụ họp, kéo đến với ngươi:

con trai ngươi từ phương xa tới,

con gái ngươi được ẵm bên hông”.

Những con trai con gái nầy là những “cộng đồng Do thái hải ngoại” (họ không bao giờ vắng bóng trong tâm trí của ngôn sứ I-sai-a đệ tam). Thế nên, một truyền thống rất sống động muốn rằng sự thống nhất của toàn thể dân Ít-ra-en phải là công trình của Đấng Thiên Sai. Như vậy, sấm ngôn bao hàm hậu cảnh Thiên Sai.

Thế nhưng những con trai con gái từ phương xa này cũng là muôn dân nước sẽ tiến đến Giê-ru-sa-lem như Thành Đô của mình vì uy danh Đức Chúa  trên thành quyến rủ họ.

3.Nguồn phú túc của chư dân sẽ đổ về Thành Đô (60: 5-6).

Thị kiến chứa chan hy vọng thứ hai được nối kết với thị kiến thứ nhất: chư dân sẽ đề xuất sự phú túc của mình để phụng sự Thành Thánh:

“Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ,

lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ,

vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả,

của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi.

Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà của người Ma-đi-an và Ê-pha;

tất cả những người từ Sơ-va kéo đến,

đều mang theo vàng với trầm hương,

và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa”.

Những người Ma-đi-an, Ê-pha và Sơ-va là những dân miền Á-rập. Tên Sơ-va gợi lên kỷ niệm của nữ hoàng xứ Sơ-va đến triều yết vua Sa-lô-mon và dâng tặng cho vua nhiều quà tặng quý giá.

Thành đô Giê-ru-sa-lem sẽ không còn lầm than, nhưng sống trong cảnh phú túc thịnh vượng. Thành Đô sẽ lại vùng đứng lên từ những hoang tàn đổ nát, Đền Thánh sẽ được tái thiết để trở thành nơi xứng đáng cho muôn dân đến tán dương ca tụng Thiên Chúa của dân mình.

Bức tranh muôn màu rực rỡ của vị ngôn sứ xem ra loan báo trước dáng dấp của các nhà chiêm tin, tiên trưng muôn dân muôn nước đến tôn thờ Thiên Chúa Ít-ra-en. Vị ngôn sứ thoáng thấy điều mà thánh Phao-lô sẽ gọi “mầu nhiệm giữ kín từ muôn thuở nơi Thiên Chúa”: muôn dân muôn nước đồng thừa tự với người Do thái, dân của Lời Hứa (Bài Đọc II). Thị kiến hùng vĩ về một cuộc sum họp bao la chung quanh Thiên Chúa đích thật chuẩn bị thị kiến của thánh Gioan trong sách Khải Huyền: thành đô Giê-ru-sa-lem tương lai là Thành Đô thiên quốc mà bản phác thảo của nó trên trần thế nầy là Giáo Hội.

BÀI ĐỌC II (Ep 3: 2-3, 5-6)

Thánh Phao-lô viết thư nầy có lẽ trong khi ngài bị giam cầm ở Rô-ma vào những năm 61-63. Thánh nhân ngỏ lời với tín hữu Ê-phê-xô, đúng hơn với các cộng đoàn khác nữa ở miền Tiểu Á, mà thánh nhân muốn thư của mình được chuyển đến.

Những cộng đoàn nầy đa số là những Ki tô hữu gốc lương dân. Thánh Phao-lô nhắc nhở họ ơn gọi tông đồ dân ngoại của mình. Nhiệm vụ của ngài là loan báo cho họ không còn một dân tộc đặc quyền đặc lợi nữa vì muôn dân được chấp nhận đồng thừa hưởng cùng một ơn cứu độ như dân Do thái.

1.Mầu nhiệm của Đức Ki tô: 

Sứ điệp trọng tâm của bức thư nầy là “mầu nhiệm của Đức Ki tô”. Qua từ “mầu nhiệm” nầy, thánh Phao-lô muốn nói đến ý định ẩn kín từ muôn thuở ở nơi Thiên Chúa mà người ta có thể biết được chỉ nhờ Mặc Khải mà thôi.

Đối với thánh nhân, các thầy thông luật đã học hỏi Kinh Thánh dù thành tâm mấy đi nữa cũng không thể nào biết được mầu nhiệm: “nhờ rao giảng Tin Mừng và được liên kết với Đức Giê-su Ki tô, các dân ngoại cũng được đồng thừa tự với người Do thái”. Thánh nhân đã hiểu được Thiên Ý nhiệm mầu nầy chỉ nhờ ơn soi sáng của Đức Giê-su trên đường Đa-mát.

2.Dân thánh:

 Từ trong chốn lao tù của mình, vào lúc cuộc đời xế bóng, thánh Phao-lô không quên liên kết sứ vụ Tông Đồ dân ngoại của mình với tất cả các tông đồ và các nhà rao giảng khác (những người mà thánh nhân gọi “ngôn sứ”), họ là những người đã lãnh nhận Thần Khí và thi hành sứ vụ như ngài. Qua cách diễn tả “các thánh”, thánh nhân không gợi lên sự thánh thiện nói riêng, nhưng chỉ chung tất cả mọi người Ki-tô hữu. Xuống vài hàng, thánh Phao-lô khiêm tốn tự nhận mình là “kẻ rốt hết trong toàn thể dân thánh”.

3.Vị Tông Đồ của dân ngoại:

Thánh nhân đã hiến dâng mọi sức lực của mình cho ơn gọi của mình. Sách Công Vụ tường thuật thánh nhân đã nhiệt thành thực hiện sứ mạng của mình biết là ngần nào: trèo non lặn suối, vượt biển băng ngàn không quản ngại gian nguy. Chương 13 tường thuật một chi tiết điển hình: sau bài thuyết giáo của thánh nhân ở hội đường An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, người Do thái sinh lòng ghen tức…trong khi dân ngoại vui mừng tôn vinh lời Chúa.

Đó cũng là hai thái độ khác nhau mà thánh Mát-thêu nêu bật trong hoạt cảnh “Các Nhà Chiêm Tinh đến triều yết Chúa Hài Nhi”.

TIN MỪNG (Mt 2: 1-12)

Thánh Mát-thêu là vị thánh ký duy nhất tường thuật biến cố “các nhà chiêm tinh đến yết kiến Chúa Hài Nhi”. Ông đã giữ lại chuyện tích nầy vì nó xác minh một trong những chủ đề sách Tin Mừng của ông. Chính quyền và giáo quyền Giê-ru-sa-lem đã không nhận ra Đấng Cứu Độ; vì thế, Thiên Chúa đã mở rộng con đường cho dân ngoại gia nhập Giao Ước, bởi vì sứ điệp Tin Mừng cũng được gởi đến cho họ. Thật lạ lùng trong khi dân ngoại đáp trả lời mời gọi, thì con cái của Lời Hứa lại quay lưng với Giao Ước.

Thánh Lu-ca trình bày cho chúng ta các mục đồng đến chiêm ngưỡng và thờ lạy Chúa Hài Nhi, họ đại diện những người đơn sơ, khiêm tốn, chân thành và nghèo khó. Trong khi đó, thánh Mát-thêu trình bày cho chúng ta các nhà chiêm tinh từ phương xa vạn dặm đến triều bái Chúa Hài Nhi, họ đại diện những người giàu có, thông thái. Những người đầu tiên là những thành viên của dân Chúa chọn, trong khi những người thứ hai đến từ thế giới ngoại giáo. Hai bức tranh tương phản nhưng bổ túc cho nhau.

1.Lên đường theo ánh sáng tự nhiên.

Trong chuyện tích Tin Mừng Mát-thêu, ngôi sao được trình bày như một hiện tượng thiên nhiên. Nhưng xa hơn một chút, thánh ký làm cho nó thành một dấu hiệu: ánh sáng của ngôi sao là lời kêu gọi mầu nhiệm soi lối dẫn đường cho các nhà chiêm tinh nầy như Thánh Vịnh đã nói với chúng ta:

“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,

không trung loan báo việc tay Người làm.

Ngày qua mách bảo cho ngày tới,

đêm nầy kể lại với đêm kia.

Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh,

 mà tiếng vang đã vang dội khắp hoàn cầu

và thông điệp loan đi tới khắp chân trời góc biển” (Tv 19: 2-5).

Nếu chỉ suy nghĩ một cách sâu xa biến bao biến cố xảy ra trong đời thường là những ánh sao lạ thúc đẩy chúng ta lên đường đấy chứ.

2.Dừng chân ở Giê-ru-sa-lem.

Các nhà chiêm tinh đến Giê-ru-sa-lem bởi vì “vua dân Do thái” mà họ tìm kiếm. Thánh Mát-thêu có chủ ý dùng tước hiệu nầy: đó là tước hiệu được ghi ở nơi bản án kết tội của Đức Giê-su: “Người nầy là Giê-su, vua dân Do thái” (Mt 27: 37).

Sự xuất hiện của các nhà chiêm tinh ở Giê-ru-sa-lem làm cho vua Hê-rô-đê và triều thần của vua bối rối. Điều nầy xem ra cũng dễ hiểu thôi vì vua cùng triều thần của vua nghĩ đến một đối thủ bất ngờ xuất hiện. Nhưng cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao thì quả thật là lạ lùng. Tại sao dân thành Giê-ru-sa-lem không vui mừng nhỉ? Đây là lời ghi nhận mang đậm nét Tin Mừng Mát-thêu. Thánh Mát-thêu không thích Giê-ru-sa-lem, bởi vì dân nầy đã lỗi hẹn gặp gỡ Đấng Cứu Độ mà họ trông đợi qua những lời loan báo của các ngôn sứ. Ở nơi nỗi xao xuyến của dân thành Giê-ru-sa-lem, thánh ký báo trước việc dân nầy sẽ từ chối Đức Giê-su trong tương lai. Mặt khác, vào thời điểm thánh Mát-thêu viết Tin Mừng của mình, những người Do thái chống đối cộng đoàn Ki-tô hữu rất dữ dội. Sự căng thẳng nầy có thể được nhận ra ở nơi những lời nhận xét nầy.

“Nhà vua triệu tập các thượng tế, các kinh sư lại, và hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ở đâu”. Các thượng tế là những lãnh tụ tối cao của Do thái giáo và các kinh sư là những chuyên viên Kinh Thánh, vì thế họ có thể trả lời cho các nhà chiêm tinh biết chính xác Đấng Cứu Thế sinh ra ở đâu. Họ rất tự phụ về sự hiểu biết Kinh Thánh của mình, nhưng họ không muốn đi xa hơn. Sự hiểu biết Kinh Thánh của họ đã soi lối chỉ đường cho những người ngoại quốc xa lạ nầy đến với Chúa Hài Nhi, trong khi chính họ và toàn thể dân thành Giê-ru-sa-lem từ chối đến với Ngài. Như vậy sự quy tụ của những người ngoại quốc chung quanh vị vua Do thái vừa mới sinh nầy xem ra là hình ảnh tham dự trước một cuộc quy tụ vĩ đại của Giáo Hội đến từ muôn dân.  

Bản văn mà các kinh sư trích dẫn là lời sấm của ngôn sứ Mi-kha (thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên) được thánh Mát-thêu thay đổi một chút. Trong khi ngôn sứ Mi-kha viết:

“Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha,

ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa,

từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện

một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en ” (Mk 5: 1),

còn lời trích dẫn của bản văn Mát-thêu thì viết:

“Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa,

ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa,

vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời”.

Rõ ràng trong bản văn của mình, thánh Mát-thêu không trích dẫn nguyên văn lời sấm của Mi-kha, nhưng còn sửa đổi và thêm “Chính ngươi sẽ chăn dắt Ít-ra-en, dân Ta…” (2Sm 5: 2).

Vua Hê-rô-đê bí mật triệu tập các nhà chiêm tinh và dò hỏi tường tận ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện để xác định chính xác thời gian xuất hiện của Hài Nhi. Rõ ràng nhà vua có mưu đồ hãm hại Hài Nhi rồi, nhưng với thái độ giả nhân giả nghĩa nhà vua nói với họ: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái yết Người”.

Vài nét chấm phá trên đây phác họa chân dung của nhân vật nầy sát với những gì các sử gia miêu tả về vị bạo chúa nầy: tâm địa ngờ vực, thù hằn, mê tín dị đoan và tàn bạo cho đến điên cuồng khát máu. Ông ra lệnh thảm sát vợ ông, bà Marianne, cùng nhiều người thân của bà, ba người anh em họ và ba người con riêng của bà. Chính ông ra lệnh hành hình nhiều người Pha-ri-sêu trước công chúng. Cũng như ông truyền lệnh thiêu sống mười bốn trẻ em để trả thù cho việc dân chúng đã phá đổ con ó bằng vàng mà ông đã cho đặt trước Đền Thờ. Vì thế, đối với vị vua nầy, việc thảm sát các hài nhi Bê-lem không có gì là không thể. Vì danh vọng và quyền lực người ta có thể làm bất cứ điều gì dù mất đi nhân tính của mình đi nữa.

Phải chăng việc các nhà chiêm tinh dừng chân ở Giê-ru-sa-lem được khai triển theo cách thức giải thích “Midrash” ? Chắc chắn một phần nào đó. Chúng ta đọc thấy cách giải thích Midrash về cuộc chào đời của Mô-sê như sau: “Pha-ra-ô triệu tập tất cả các nhà thông thái và triều đình …Toàn dân kinh hải…một hoàng tử triều yết vua và tấu trình lên vua…một hài nhi sắp chào đời cho con cái Ít-ra-en. Xin ra lệnh giết tất cả nam nhi…”. Đây là lời chú giải Midrash trên đoạn văn sách Xuất Hành 1: 9-22. Phải chăng thánh Mát-thêu đã được gợi hứng từ phương thức nầy? Hai hoàn cảnh tương tự như nhau thì rất rõ.

3.Lên đường theo ánh sáng Lời Chúa.

Chắc chắn cũng phải lưu ý đến cách thức tô điểm midrash ở nơi việc tái xuất hiện của vị sao lạ nầy. Việc ngôi sao lạ này lại xuất hiện có cần thiết không, bởi vì Kinh Thánh đã cho họ thông tin chính xác về nơi sinh hạ của Hài Nhi rồi. Ấy vậy, làng nầy rất gần với Giê-ru-sa-lem, cách khoảng 9 km. Vậy, ánh sao dẫn lối đưa đường các nhà chiêm tinh đến Bê-lem phải được hiểu theo văn mạch là “ánh sáng Lời Chúa”. Quả thật, Thánh vịnh đã không nói với chúng ta: “Lời Chúa là ánh sáng soi lối dẫn đường cho bước chân con đi” sao?

4.Gặp gỡ Ngôi Lời Thiên Chúa làm người.

Bấy giờ các nhà chiêm tinh gặp thấy Hài Nhi không còn trong “hang lừa máng cỏ” nữa, nhưng trong “nhà”. Một khoảng thời gian đã trôi qua giữa Hài Nhi chào đời và các nhà chiêm tinh đến yết kiến: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a…” Như vậy, theo dấu chỉ của Lời Chúa, họ đã đến gặp gỡ chính Đấng mà Tin Mừng Gioan tuyên xưng: “Ngôi Lời làm người và cư ngụ ở giữa chúng ta”. Chính ở nơi Ngài mà Cựu Ước quy về và cũng chính ở nơi Ngài mà Cựu Ước gặp thấy ý nghĩa tròn đầy của mình.

Chúng ta ghi nhận thánh Giu-se không được kể ra ở đây. Điều nầy thật lạ lùng, vì cho đến lúc nầy thánh Mát-thêu rất chú ý đến những sự việc xảy ra cho thánh Giu-se. Việc không nhắc đến thánh Giu-se ở đây có ẩn ý gì? Phải chăng đây là dấu chỉ đầu tiên bày tỏ niềm tôn kính dành cho Đức Trinh Nữ ở nơi cách nói “Hài Nhi cùng với thân mẫu của Ngài”?

Với tấm lòng tôn kính và quảng đại Đông Phương quen thuộc, họ dâng tiến các tặng vật lên Hài Nhi bé bỏng mà họ nhận ra ở nơi cái vẻ bên ngoài quá mức tầm thường nầy là một vị vua vừa mới giáng sinh. Các Giáo Phụ cố gắng giải mã ý nghĩa của những phẩm vật nầy: vàng là phẩm vật cao quý được dâng tặng cho vua, vì Hài Nhi nầy là vua; nhũ hương là hương liệu được đốt trên bàn thờ của các thần linh, tỏa hương trầm nghi ngút, vì Hài Nhi nầy là Thiên Chúa; mộc dược là một trong những vật liệu được dùng để ướp xác, vì Hài Nhi nầy sẽ thực hiện ơn cứu độ trần gian bằng con đường Tử Nạn. Như vậy, qua ba phẩm vật đầy ý nghĩa nầy, các nhà chiêm tinh tuyên xưng Hài Nhi Giê-su là vua, Thiên Chúa và cũng là Đấng Cứu Thế.

Các nhà chiêm tinh đến từ xa thời lạy Hài Nhi, thế là các sấm ngôn về Đấng Cứu Thế trần gian được ứng nghiệm ở nơi Hài Nhi Giê-su nầy (Tv 72: 10-15; Is 60: 5tt; 49: 23; Ds 24: 17).

Người ta có thể nêu lên vấn đề lịch sử tính của câu chuyện nầy, nhưng không ai có thể chối cãi đây là cuộc hành trình tâm linh của chính Giáo Hội vốn từ muôn dân mà đến khởi đi từ con đường mặc khải tự nhiên: một hiện tượng thiên nhiên, một biến cố, một hoàn cảnh sống… đến con đường mặc khải siêu nhiên: Lời Chúa, để rồi cuối cùng gặp gỡ chính Đấng là Ngôi Lời Thiên Chúa. Theo một cách nào đó, đây cũng là cuộc hành trình tâm linh của mỗi người chúng ta.