THÁNH GIUSE – BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA
 
Phụng Vụ Lời Chúa nêu bật ông Áp-ra-ham là tổ phụ của tất cả những ai, dù thuộc bất cứ dân tộc nào, nếu có chung một niềm tin vào lời hứa của Thiên Chúa như vị tổ phụ (Bài Đọc II). Lời hứa ấy được xác định rõ hơn ở nơi sấm ngôn của ngôn sứ Na-than cho vua Đa-vít về một Đấng Mê-si-a xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít (Bài Đọc I) và được ứng nghiệm ở nơi cuộc chào đời của Đức Giê-su, Con của Đức Ma-ri-a và Nghĩa Tử của thánh Giu-se qua dòng dõi vua Đa-vít của thánh nhân (Tin Mừng).
2Sm 7-4-5a, 12-14a, 16
Khi sử dụng từ “nhà” đa nghĩa: vừa chỉ “nơi cư ngụ” vừa chỉ “dòng dõi”, ngôn sứ Na-than chuyển giao cho vua Đa-vít sứ điệp của Thiên Chúa, theo đó chính Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một Đấng Ki-tô (Mê-si-a) xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và ban cho Đấng ấy vương quyền muôn năm bền vững.
Rm 4: 13, 16-18, 22
Trong thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô nhấn mạnh ông Áp-ra-ham và dòng dõi của ông được Thiên Chúa hứa ban đất làm gia nghiệp không phải vì đức công chính theo Lề Luật mà là vì đức công chính theo đức tin. Vì thế, ông Áp-ra-ham là vị tổ phụ của tất cả những ai, không thuộc dòng dõi dưới chế độ Lề Luật nhưng thuộc dòng dõi dưới chế độ ân sủng của Đức Giê-su Ki-tô.
Mt 1: 16, 18-21, 24a
Thánh Mát-thêu thuật lại chuyện tích “Truyền Tin cho thánh Giu-se” để cho thấy rằng trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, thánh Giu-se được tiền định là người cha hợp pháp của Chúa Giê-su. Chính nhờ dòng dõi vua Đa-vít của thánh nhân mà sấm ngôn về Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít được ứng nghiệm ở nơi Đức Giê-su.
BÀI ĐỌC I (2Sm 7: 4-5a, 12-14a, 16)
Ước nguyện thiết thân nhất của vua Đa-vít là muốn xây đền thờ cho Đức Chúa. Vua Đa-vít đã tâm sự với ngôn sứ Na-than: : “Ông xem, tôi được ở nhà bằng gỗ bá hương, còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở trong lều vải”. Ngôn sứ Na-than, vị cố vấn của vua, thấy nhận định của vua thật hợp tình hợp lý, nên thưa với vua: “Tất cả những gì ngài ấp ủ trong lòng, xin ngài cứ đi mà thực hiện, vì Đức Chúa ở cùng ngài’” (2Sm 7: 1-3).
Nhưng đêm hôm ấy, qua ngôn sứ Na-than, Đức Chúa cho biết không phải Đa-vít xây nhà cho Đức Chúa mà chính Đức Chúa xây nhà cho vua (7: 4-5a). Sấm ngôn này sử dụng từ “nhà” đa nghĩa vừa để chỉ ngôi nhà nơi con người sinh sống, vừa để chỉ những người sinh sống trong ngôi nhà ấy, tức là gia đình, và rộng lớn hơn là dòng dõi. Vua Đa-vít có ý định xây cho Thiên Chúa một ngôi nhà bằng gỗ bá hương, nhưng chính Thiên Chúa xây cho vua một dòng dõi muôn năm ngự trị. Dòng dõi của vua Đa-vít sẽ mãi mãi được sống dưới tình phụ tử của Thiên Chúa, Người sẽ hướng dẫn, nâng đỡ và chỉ dạy như người cha hành xử với đứa con yêu dấu của mình.
Sấm ngôn nầy là nguồn cảm hứng cho tất cả các ngôn sứ cung đình hay đền thánh qua những thánh vịnh liên quan đến vị vua thuộc dòng dõi Đa-vít (x. Tv 2; 72; 89; 132: 11-12). Các ngôn sứ bút ký sau nầy đặt niềm hy vọng vào vua Ki-tô (Mê-si-a) thời cánh chung thuộc dòng dõi vua Đa-vít, Ngài đến để thay đổi vận mệnh buồn thảm của dân tộc, và hướng mọi người vào vị vua đó. Trong tất cả điều nầy, các ngôn sứ đã loan báo ở mức độ đáng kinh ngạc về Đức Giê-su Ki-tô. 
BÀI ĐỌC II (Rm 4: 13, 16-18, 22)
Đây là đỉnh điểm lập luận của thánh Phao-lô và với lập luận này thánh Phao-lô đóng lại cuộc tranh luận của ngài về ơn công chính nhờ đức tin chứ không nhờ việc làm Luật dạy. Thánh nhân thiết lập luận điểm của mình bằng cách viện dẫn ông Áp-ra-ham, tổ phụ của dân Do thái, và rút ra lập luận của mình từ Kinh Thánh.
1.Ơn công chính theo truyền thống Do thái:
Trước hết, thánh nhân không cho rằng người ta có thể có đức tin mà không cần việc làm, không cần vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Truyền thống Do thái chủ trương rằng nhờ tin, tổ phụ Áp-ra-ham trung thành thực hiện thánh ý của Thiên Chúa, kể cả cắt bì (x. St 17: 10) Chính vì tin vào Thiên Chúa mà dân Do thái hoan hỉ đón nhận ân ban Lề Luật và mong ước thực hiện nó hết lòng, hết linh hồn và hết sức lực (Đnl 6: 3). Họ thấy Lề Luật là đặc ân để biết và dạy “đường lối” mà Thiên Chúa đã trao phó cho họ. Vâng phục là hoa trái đức tin đối với cả tổ phụ Áp-ra-ham lẫn dân Do thái trung tín. Điều này thánh Phao-lô biết rõ và thánh nhân hoàn toàn tán thành quan điểm này.
Thứ nữa, truyền thống Do thái cũng chủ trương rằng ơn công chính là ân huệ Thiên Chúa ban vì thế phải được đón nhận trong đức tin. Vì người Do thái đã nối kết chặc chẽ không chỉ giữa đức tin và vâng phục, nhưng còn giữa đức tin và Lề Luật. Họ không thể hiểu được làm thế nào họ có thể vẫn trung thành với Thiên Chúa mà ý muốn của Ngài được diễn tả trong Lề Luật, nếu, vì bất kỳ lý do gì, họ không tuân giữ Lề Luật. Quả thật, điều này muốn nói rằng đối với người Do thái, đức tin được nối kết với ơn công chính, vâng phục và Lề Luật.
2.Ơn công chính theo thánh Phao-lô:
Chính điểm nối kết này mà thánh Phao-lô muốn phá vỡ, bằng cách cho thấy rằng ơn công chính được nối kết với đức tin, chứ không với Lề Luật. Khi làm như vậy, thánh nhân không có ý định hủy bỏ Lề Luật nhưng kiện toàn Lề Luật. Thánh nhân đã phát biểu rồi rằng Tin Mừng là điều “xưa kia Thiên Chúa đã dùng các ngôn sứ của Người mà hứa trước trong Kinh Thánh” (1: 2), và cách thức mà Thiên Chúa mặc khải ơn công chính của Ngài ở nơi Đức Ki-tô là điều mà “Sách Luật và các Ngôn Sứ làm chứng” (3: 21). Tiền đề của thánh nhân chính là Tin Mừng kiện toàn không chỉ các lời hứa, nhưng cũng Lề Luật.
Ở đây thánh nhân muốn thiết lập quan điểm theo đó “vâng phục Tin Mừng” (1: 5) không đồng nghĩa với vâng phục Lề Luật. Thiên Chúa đã vượt qua Lề Luật ở nơi Đức Giê-su, và Ngài muốn dân Ngài tiến bước từ Lề Luật đến Đức Ki-tô, chứ không cưỡng kháng Đức Ki-tô mà quay lại Lề Luật. Khi chấp nhận Đức Ki-tô với cùng niềm tin mà tổ phụ Áp-ra-ham đã bày tỏ, họ sẽ đón nhận quyền năng, sự hiện diện, tình yêu và Thánh Thần, Đấng sẽ giúp họ có khả năng đạt được sự vâng phục chân thật, điều Lề Luật không thể thực hiện. Mặc Khải mới nơi Đức Ki-tô làm rõ ra rằng Thiên Chúa không muốn họ bị Lề Luật buộc chặt hay bị giới hạn trong chân trời của Lề Luật.
Ở đây thánh Phao-lô mong ước thiết lập nền tảng vững chắc. Thánh nhân muốn rằng ơn công chính – dẫn đưa con người vào trong mối quan hệ chính trực với Thiên Chúa – là vấn đề đức tin, đối với người Do thái cũng như đối với tổ phụ Áp-ra-ham. Thánh nhân cũng muốn rằng những lời hứa mà tổ phụ Áp-ra-ham tin được nối kết không với Lề Luật, nhưng với kinh nghiệm của những ai dự phần vào đức tin của tổ phụ Áp-ra-ham, dù họ là dân Do thái hay dân ngoại.
TIN MỪNG (Mt 1: 16,18-21, 24a)
Chuyện tích này thường nêu lên vấn đề “Đức Công Chính” của thánh Giu-se. Đề tài này được đề cập đến ở đây vì nó cung cấp cho chúng ta rất nhiều chất liệu phong phú để giúp chúng ta suy gẫm đức cao trọng của Thánh Cả Giu-se nhân ngày lễ của thánh nhân.
1.Đức Công Chính của thánh Giu-se theo Truyền Thống:
Về Đức Công Chính của thánh Giu-se, cách giải thích truyền thống nhấn mạnh rằng thánh Giu-se không hề hay biết câu chuyện Truyền Tin cho Đức Ma-ri-a. Vì thế, thánh nhân nghi ngờ đức hạnh vị hôn thê của mình, nhưng vì lòng nhân hậu, thánh nhân không muốn tố giác bà cách công khai, nên định tâm lìa bỏ bà một cách kín đáo. Lối giải thích nầy làm bật sáng đức hạnh không chỉ của thánh Giu-se, nhưng còn của Đức Ma-ri-a nữa. Sự im lặng của Đức Ma-ri-a thật đáng thán phục. Đối mặt với một sự kiện không thể nào giải thích theo phương diện con người, Đức Ma-ri-a hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Nếu việc thụ thai mà vẫn còn đồng trinh là công việc của Thiên Chúa, thì chắc chắn Thiên Chúa có cách giải quyết vấn đề này.
Chắc chắn Thiên Chúa đặt để hai vị thánh này vào một sự thử thách nghiêm trọng. Từ đó rút ra một bài học linh đạo tuyệt vời: chúng ta đừng ngạc nhiên nếu phải chịu những thử thách khó khăn trong cuộc đời. Noi gương thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a, chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng vào Chúa và triệt để trung thành với chương trình của Người.
2.Đức Công Chính của thánh Giu-se theo khoa chú giải hiện đại:
Tuy nhiên, cách giải thích truyền thống này gặp phải khó khăn: đức công chính theo Lề Luật đòi buộc thánh Giu-se phải tố cáo vị hôn thê của mình, vì thế thánh Giê-rô-ni-mô đã nhận xét chí lý rằng: “Thánh Giu-se ém nhẹm trọng tội của vợ mình mà cho là công chính ư?”.
Vì thế, theo cách giải thích hiện đại, làm thế nào Đức Ma-ri-a lại không thuật lại câu chuyện truyền tin của mình cho thánh Giu-se được, người mà Mẹ tin tưởng gởi gắm cuộc đời cho thánh nhân như một người chồng? Vì thế, thánh Giu-se không một chút nghi ngờ về đức hạnh người bạn đời của mình. Điều làm cho thánh nhân trăn trở chính là trong hoàn cảnh này, phải biết hành xử như thế nào cho phải lẽ.
Một đàng, trên bình diện công bình pháp lý, với tư cách là người chồng hợp pháp của Đức Ma-ri-a, thánh nhân có quyền đón nhận vị hôn thê là vợ của mình và đứa con mà nàng cưu mang là con của mình. Nhưng mặt khác, trên bình biện công bình tôn giáo, thánh nhân bị đòi buộc phải kính trọng công việc của Thiên Chúa ở nơi Đức Ma-ri-a mà cho đến lúc này thánh nhân không được mời gọi dự phần vào.
Lúc đó, thánh nhân quyết định âm thầm rút lui, nhường bước trước kế hoạch của Thiên Chúa, chấp nhận dâng hiến điều đắt giá nhất của cuộc đời mình: tình yêu đối với Đức Ma-ri-a. Chính trong tâm trạng tiến thối lưỡng nan này mà thánh nhân giữ kín ý định cho riêng mình vì không thể nào giải bày với người bạn đời của mình. Vì thế, động từ Hy ngữ được dùng ở đây không có ngữ nghĩa tiêu cục “tố cáo” hay “tố giác” như cách giải thích truyền thống đã hiểu, nhưng mang ý nghĩa tích cực: “thổ lộ” hay “giải bày”: “Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính, vì thế không muốn ‘thổ lộ’ ý định của mình cho Đức Ma-ri-a”.
Vì thế, để xua tan những nghi ngại của thánh nhân, sứ thần tái khẳng định những gì mà thánh nhân đã biết, đó là thai nhi mà Đức Ma-ri-a cưu mang là công việc của Chúa Thánh Thần, đồng thời mời gọi thánh nhân tham dự vào công việc này trong vai trò là người chồng của Đức Ma-ri-a và là người cha hợp pháp của thai nhi qua việc thánh nhân đặt tên cho con trẻ, nhờ đó con trẻ được sáp nhập hợp pháp vào hoàng tộc Đa-vít, có như thế, sấm ngôn của ngôn sứ Na-than về Đấng Ki-tô (2Sm 7: 12) được ứng nghiệm. Vì thế, bản văn đòi buộc phải đọc là Này ông Giu-se, hậu duệ Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì quả thật (gar) thai nhi mà bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh thần. Vì thế bà sẽ sinh con trai, còn ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì quả thật (“gar) chính Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ .
Như vậy, Đức Công Chính của thánh Giu-se không dính dáng gì đến việc tuân giữ Lề Luật, (phải nói là việc tuân giữ Lề Luật quá nghiêm nhặt sẽ dẫn đến việc giết chết Đức Ma-ri-a và thai nhi Giê-su), nhưng thành tâm thiện chí lắng nghe để khám phá ý muốn của Thiên Chúa trong mọi biến cố đời thường của mình và mau mắn tìm cách đáp trả một cách tích cực: “Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà mình”. J. Escriva ca ngợi Đức Công Chính của thánh Giu-se như sau: “Thánh Giu-se là một thường nhân mà Thiên Chúa tin tưởng vào thánh nhân để thực hiện những điều vĩ đại. Thánh nhân đã làm đúng như Đức Chúa muốn thánh nhân làm, trong từng mỗi một biến cố hình thành nên cuộc đời của thánh nhân. Đó là tại sao Kinh Thánh ca ngợi thánh Giu-se là ‘người công chính’” (Bl. J. Escriva, Christ is passing by, 40).