PHÚC ÂM CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN  NĂM A

(Mt 18, 21-35)

CÂU HỎI

  1. Đọc Mt 6,12.14-15. So sánh với đoạn này với Mt 18,21-35? Tìm một điểm giống nhau.
  2. Đọc Mt 6,12.14-15. So sánh với đoạn này với Mt 18,21-35? Tìm một điểm khác nhau.
  3. Đọc Lc 17,4. So sánh đoạn này với Mt 18,21-22, tìm ra những khác biệt.
  4. So sánh phản ứng của ông vua và của người mắc nợ nhiều trong Mt 18,23-27 và Mt 18,28-30.
  5. Câu Mt 18,21 được dịch sát là: “Nếu anh em con cứ phạm tội chống lại con…” Tại sao ở đây Đức Giêsu mời gọi ta tha thứ cho anh em; còn trong Mt 18,15, khi anh em phạm tội, Ngài lại đòi chúng ta phải góp ý sửa lỗi cho anh em?
  6. Tha thứ đến 70 lần 7. So sánh giá trị của mười ngàn nén vàng và một trăm quan tiền.
  7. Ý nghĩa của “chạnh lòng thương” ở Mt 18,27. Đọc thêm Mt 9,36; 14,14; 15,32; 20,34. Ai là người hay chạnh lòng thương trong Tin Mừng Mát-thêu?
  8. Đọc Mt 18,33. Bạn nghĩ gì về việc Thiên Chúa có thể rút lại ơn tha thứ Ngài đã ban cho ta, nếu ta không tha thứ cho người anh em trong cộng đoàn?

GỢI Ý SUY NIỆM: Bạn có kinh nghiệm về thương xót và tha thứ cho ai chưa? Câu nào trong dụ ngôn này đánh động bạn hơn cả?

PHẦN TRẢ LỜI

  1. Trong Bài Giảng trên núi, Đức Giêsu đã nhấn mạnh đến thái độ cần tha thứ cho anh em. Tha thứ cho “người ta” là điều kiện cần thiết để được Thiên Chúa tha thứ cho chính mình. Dịch sát Mt 6,12 như sau: “Xin tha cho chúng con những món nợ, như chính chúng con cũng tha cho những người mắc nợ chúng con.” “Nợ” là lối nói ẩn dụ để nói về tội. Trong Mt 6,14-15 Đức Giêsu đã triển khai thêm câu trên. Ngài không nói đến “những món nợ” (ta opheilếmata), những nói đến “những lỗi lầm” (ta paraptốmata). Cha trên trời sẽ tha hay không tha cho chúng ta tùy theo chúng ta tha hay không tha cho người ta. Trong Bài Giảng về Hội Thánh ở chương 18, Đức Giêsu lại nói về thái độ tha thứ. Ở đây Ngài sử dụng ý niệm “nợ” nhiều lần (Mt 18,24.27.28.30.32.34). Nhưng “tha nợ” ở đây chính là “tha tội,” vì Phêrô đã hỏi Đức Giêsu: “Thưa Ngài, nếu anh em con cứ phạm tội chống lại con (= xúc phạm đến con), thì con phải tha bao nhiêu lần?” (Mt 18,21).
  2. Có một điểm khác biệt quan trọng giữa Mt 6,12 với Mt 18,27, đó là trong dụ ngôn ở Mt 18 ông vua đã tha thứ cho anh đầy tớ trước khi anh ấy tha thứ cho người bạn của anh, nghĩa là tha thứ vô điều kiện. Sự tha thứ này chỉ bị rút lại khi anh cố tình không tha thứ cho người khác (Mt 18,32-35). Chúng ta cũng có thể hiểu Kinh Lạy Cha (Mt 6,12) theo chiều hướng đó: Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta vô điều kiện. Ngài chỉ không tha thứ, nghĩa là rút lại lòng tha thứ, khi chúng ta không chịu tha thứ cho nhau (Mt 18,15). Lòng tha thứ của Thiên Chúa mà chúng ta đã nhận được, sẽ ở lại với chúng ta hay không, còn tùy chúng ta có chuyển đi lòng tha thứ đó cho anh em khác hay không.
  3. Trong Lc 17,3-4 Đức Giêsu đòi ta phải khiển trách người anh em phạm tội, và tha thứ cho người ấy với điều kiện là người ấy tỏ ra hối cải. Số lần tha thứ tối đa mỗi ngày là bảy lần. Còn trong Mt 18,21-22 ta không thấy nói đến chuyện tha thứ với điều kiện người anh em hối cải. Hơn nữa, số lần tha thứ ở đây lên đến bảy mươi lần bảy, nghĩa vô giới hạn.
  4. Hai đoạn văn Mt 18,23-27 và Mt 18,28-30 cho thấy hai phản ứng rất khác nhau của hai nhân vật: ông vua và kẻ mắc nợ nhiều. Ông vua đứng trước người mắc nợ mình một món nợ khổng lồ, không có gì để trả. Khi thấy người ấy “sấp mình xuống,” khẩn khoản nài xin và hứa sẽ trả hết, ông vua bèn “chạnh lòng thương” và tha luôn món nợ (Mt 18,23-27). Ngược lại, khi chính người vừa được tha này đứng trước người đồng bạn (cùng giúp việc cho chủ) mắc nợ anh ta một món tiền nhỏ so với món tiền khổng lồ anh ta vừa được tha, thì anh ta lại có thái độ khác hẳn. Người đồng bạn này cũng “sấp mình xuống” van xin và hứa hẹn sẽ trả, nhưng anh ta không tha mà lại tống vào ngục (Mt 18,28-30). Thái độ của anh này bị những đồng bạn khác nhận ra và hết sức buồn phiền nên mới đi báo đầu đuôi câu chuyện cho ông chủ (= ông vua).
  5. Trước một người “phạm tội” đến anh em trong cộng đoàn, Đức Giêsu đòi ta có hai phản ứng khác nhau. Ở Mt 18,15 Ngài đòi ta phải sửa lỗi người ấy theo từng bước một. Còn ở Mt 18,21-22 Ngài lại bảo chúng ta phải tha thứ nhiều lần, tha vô giới hạn. Có lẽ sự khác biệt ở đây đến từ mức độ nặng hay nhẹ của tội đã phạm đến anh em trong cộng đoàn. Nếu tội đã phạm là một tội nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn cho một cá nhân, hay gây gương xấu lớn cho cộng đoàn, thì cần góp ý sửa lỗi để giúp cho người phạm lỗi hoán cải và không tiếp tục phạm. Còn nếu chỉ là những lỗi do thiếu sót, vô ý hay do yếu đuối, thì ta phải tha thứ luôn luôn. Tuy nhiên, sửa lỗi và tha thứ không phải là những thái độ ngược nhau, nhưng bổ sung cho nhau. Cả hai đều bắt nguồn từ tình huynh đệ trong cộng đoàn.
  6. Sách Sáng thế nói đến việc báo thù gấp bảy mươi lần bảy của La-méc (St 4,24). Còn ở đây Đức Giêsu nói đến việc tha thứ bảy mươi lần bảy (Mt 18,22). Việc báo thù vô hạn của người đời xưa được thay thế bằng việc tha thứ vô hạn của các kitô hữu. Chúng ta tha thứ vô hạn vì chúng ta nhận được sự tha thứ vô hạn từ Thiên Chúa. “Mười ngàn yến vàng” có giá trị cực kỳ lớn vì một yến vàng bằng 6000 ngày lương. Con số này cho thấy món nợ của chúng ta đối với Chúa thật kinh khủng so với món tiền anh em nợ chúng ta chỉ bằng 100 ngày lương.
  7. Ông vua (= ông chủ) đã tha cho người đầy tớ mắc nợ ông món tiền cực lớn, vì ông “chạnh lòng thương” anh ta và cả gia đình anh (Mt 18,27). Chạnh lòng thương là để cho trái tim mình chạm đến nỗi khổ đau của người khác. Trong Tin Mừng Mát-thêu, Đức Giêsu là Đấng hay chạnh lòng thương (Mt 9,36; 14,14; 15,32; 20,34) trước nỗi đau của con người.
  8. Qua câu Mt 18,33 ta thấy Thiên Chúa đòi buộc chúng ta “phải” thương xót nhau như chính Ngài đã thương xót chúng ta. Dụ ngôn này cho thấy Ngài có thể rút lại lòng thương xót và tha thứ nếu chúng ta không biết thương xót anh em. Khi sống với nhau trong cộng đoàn tín hữu,anh em luôn mắc nợ chúng ta một điều gì đó, lớn hay nhỏ. Chính thái độ tha thứ của chúng ta cho anh em khiến chúng ta giữ được ơn tha thứ Chúa đã ban cho chúng ta.