CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN A

(Mt 23,1-12)

  1. Trong bài Tin Mừng này, Đức Giêsu nói với ai và nói về ai?
  2. Đọc câu 2 và 3 của bài này, ta thấy Đức Giêsu tôn trọng quyền giải thích về Luật Môsê của các người Pharisêu. Nhưng trong thực tế thì sao? Đọc Mt 16,6.11-12; và 23,16-22.
  3. Đọc câu 3. Cho thấy khoảng cách giữa nói và làm nơi những người này.
  4. Trong câu 4, Đức Giêsu trách những người Pharisêu “bó những gánh nặng mà đặt lên vai người ta.” Bó những gánh nặng nghĩa là gì ? Câu nào cho thấy sự vô cảm của họ?
  5. Câu 5 cho thấy khuyết điểm gì của người Pharisêu ? Tại sao họ lại đeo trên trán hộp kinh thật lớn và mặc áo có tua thật dài?
  6. Đọc hai câu 6 và 7. Kể ra 4 điều người Pharisêu ưa thích. Sự ưa thích này phản ánh điều gì nơi lòng họ?
  7. Đọc các câu 8-10. “Đừng để ai gọi mình là thầy…..đừng gọi ai dưới đất là cha của anh em…” Điều này ta có làm được không? Đức Giêsu đòi chúng ta có thái độ nào trước cám dỗ về chức tước?
  8. So sánh Mt 23, 11 với Mt 20, 26. “Ai là người lớn nhất trong anh em, phải là người phục vụ anh em.” Như thế sự lớn lao thực sự của một người nằm ở chỗ nào?

GỢI Ý SUY NIỆM: Qua bài Tin Mừng này, ta thấy vài nét tiêu cực của một số người Pharisêu vào thời của Đức Giêsu hay sau thời của Ngài. Bạn thấy những nhắc nhở này có giúp gì cho bạn và cho Giáo hội hôm nay không?  

PHẦN TRẢ LỜI                                                                     

  1. Dựa trên Mt 23,1-2, ta thấy Đức Giêsu nói với đám đông dân chúng và các môn đệ của Ngài. Ngài nói với họ về các kinh sư và những người Pharisêu. Các kinh sư (grammateús), còn gọi là ký lục hay luật sĩ, là những người có học thức, thông thạo Luật Môsê. Trong Tin Mừng Máccô và sách Công vụ Tông đồ, các kinh sư thuộc nhóm các nhà lãnh đạo Do-thái giáo, chịu trách nhiệm về cái chết của Đức Giêsu (Mc 14,1; 14,43.53; 15,1; Cv 4,5; 6,12). Trong Tin Mừng Mát thêu, các kinh sư hay đi chung với nhóm Pharisêu (Mt 23,2; 12,38; 15,1; 5,20). Có thể có các kinh sư thuộc nhóm Pharisêu (Mc 2,16; Cv 23,9).
  2. Trong Mt 23,3 Đức Giêsu khuyên đám đông hãy làm và hãy giữ tất cả những gì các kinh sư và người Pharisêu dạy dỗ. Ngài tôn trọng quyền giải thích về Luật Môsê của họ. Tuy nhiên, trong Mt 16,6 Ngài lại cảnh báo các môn đệ đang ở trên thuyền với mình về giáo huấn của những người Pharisêu. Ngài coi giáo huấn của họ là thứ men tồi, có thể gây ảnh hưởng xấu trên các môn đệ (Mt 16,11-12). Trong Mt 23,16-22 Đức Giêsu thẳng thắn chỉ trích lời giảng dạy sai lạc về việc thề của nhóm kinh sư và Pharisêu. Như thế Đức Giêsu không bảo dân chúng chống lại những người có quyền giảng dạy, nhưng Ngài cũng nhắc họ vâng phục với tinh thần thận trọng, biết phân định, chứ không mù quáng.
  3. Đức Giêsu khuyên dân chúng không nên bắt chước việc làm của các kinh sư và Pharisêu, vì “họ nói mà không làm” (Mt 23,3). Họ có thể dạy lời hay lẽ phải, nhưng đời sống của họ lại không phù hợp với lời họ nói. Như thế có một khoảng cách giữa lời giảng dạy và việc làm nơi họ. Việc làm mới là điều quan trọng trong Tin Mừng Mátthêu (7,21-27; 21,28-32). Khoảng cách giữa lời nói và việc làm cho ta thấy dấu hiệu của thói giả hình.
  4. Đức Giêsu tố cáo các người Pharisêu “bó những gánh nặng mà đặt lên vai người ta” (Mt 23,4). Điều này hầu chắc có nghĩa là họ đã dựa vào Luật Môsê trong Kinh Thánh mà triển khai thêm nhiều thứ luật truyền khẩu khác để bắt người ta giữ. Có vô số luật về việc giữ ngày sabát hay về thanh tẩy. Luật lệ của người Pharisêu trở thành một gánh nặng không thể mang nổi trên vai người dân, vì chúng không đề cao lòng thương xót như thái độ căn bản mà Thiên Chúa đòi hỏi (x. Hôsê 6,6). Ngược lại, Đức Giêsu nói rằng “ách của Ngài thì êm ái và gánh của Ngài thì nhẹ nhàng” (Mt 11,30). Thái độ vô cảm của họ nằm ở chỗ họ “không muốn động ngón tay vào” để giúp người ta vác gánh nặng.
  5. “Họ làm mọi việc để cho người ta thấy” (Mt 23,5). Thái độ này ngược với lời khuyên của Đức Giêsu trong Bài Giảng trên Núi (Mt 6,1-18), đó là làm những việc tốt trong thầm lặng, không tìm kiếm danh giá cho mình, không coi mình là trung tâm. Nếu có cho người ta thấy, thì chỉ nhằm tôn vinh Cha trên trời (Mt 5,16). Hộp kinh là một hộp nhỏ bằng da, trong có chứa một vài đoạn Kinh Thánh, thí dụ Xh 13,1-16 hay Đnl 6,4-9. Hộp kinh này được đeo trên trán và trên cánh tay trái để thường xuyên nhắc nhở người đeo phải trung tín với Luật Môsê. Tua áo là những sợi dây được khâu vào bốn góc của tà áo ngoài, cũng để nhắc nhớ phải giữ Luật (x. Ds 15,37-41; Đnl 22,12). Áo của Đức Giêsu cũng có tua (Mt 9,20; 14,36). Khi mang hộp kinh thật lớn và tua áo thật dài, họ muốn người khác thấy lòng đạo đức của họ để ca ngợi.
  6. Người Pharisêu có 4 điều ưa thích: thích chỗ danh dự trong bữa tiệc, thích hàng ghế đầu trong hội đường, thích được chào hỏi nơi công cộng, và thích được gọi là rabbi cách kính trọng (Mt 23,6-7). Nói chung họ thích được nhiều người trọng vọng, thích mình có vị thế và quyền lực cao hơn người khác. Đó là những biểu hiện của thói háo danh.
  7. Trong Mt 23,8-10 Đức Giêsu không nói về tật xấu của các người Pharisêu, nhưng nhắc nhở dân chúng và các môn đệ về thái độ họ cần có. Những giáo huấn này không phải giữ một cách tuyệt đối theo mặt chữ, nhưng tinh thần của chúng lại phải được chúng ta hết sức coi trọng. Đừng để ai gọi mình là rabbi, như một thứ chức tước đáng kính, vì chỉ có một vị Thầy (didaskalos) là Ngài mà thôi, còn tất cả là anh chị em của nhau như trong một nhà. Đừng gọi ai là cha dưới đất, vì chỉ có một Cha trên trời là Thiên Chúa. Đừng gọi ai là người chỉ đạo ngoài Đức Kitô. Tuy nhiên,trong Tân Ước, thánh Phaolô coi mình là cha (x. 1 Cr 4,15; Philêmon 10; 1 Tx 2,11). Trong Hội thánh sơ khai, có những thầy dạy (Cv 13,1; 1 Cr 12,29). Dù phải chấp nhận có chức tước trong Hội thánh, nhưng phải cố làm sao để tránh những cạm bẫy lúc nào cũng có của hư danh và đam mê quyền lực.
  8. Khi so sánh Mt 23,11 với Mt 20,26 ta thấy chẳng phải người Pharisêu mới háo danh. Các môn đệ Đức Giêsu cũng vậy, nên cùng một lời khuyên cho cả hai. Ngài chỉ cho ta cách làm chủ tính háo danh, đó là hạ mình xuống phục vụ người khác. Chỉ phục vụ mới làm cho ta thực sự trở nên người vĩ đại trước mặt Thiên Chúa.